Wednesday, December 31, 2014

Cây thuốc lạ của người từng bị hư thận

            
Thứ Hai, 15/09/2014 09:00 SA báo Phú Yên: http://www.baophuyen.com.vn/89/120641/cay-thuoc-la-cua-nguoi-tung-bi-hu-than.html


Anh Lạc giới thiệu về cây thuốc bí ẩn - Ảnh: Y.LAN
Bị hư cả hai quả thận, tiền bạc lại không có, anh Ngô Sĩ Lạc ở thôn Nguyên Trang, xã Sơn Nguyên (huyện Sơn Hòa) cứ ngỡ mình sẽ sớm lìa khỏi cuộc đời. Trong hoàn cảnh bế tắc, anh tìm uống thuốc nam và hết bệnh nên hăm hở chia sẻ cây thuốc lạ lùng này với nhiều người, mong giúp họ tìm lại được sức khỏe. 

CÂY THUỐC NAM KỲ LẠ

Năm 1993, anh Ngô Sĩ Lạc mắc bệnh thận. Căn bệnh này suýt nữa thì cướp đi mạng sống của anh. “Tôi điều trị ở bệnh viện tại Phú Yên, vô bệnh viện TP Hồ Chí Minh rồi ra bệnh viện ở Vinh, Nghệ An. Bác sĩ đều nói cả hai quả thận bị hư, tôi phải ghép thận, nếu có tiền”.

Anh Lạc làm gì có tiền, có thận để mà ghép! Năm 1984, từ Diễn Châu (Nghệ An), anh đến huyện miền núi Sơn Hòa lập nghiệp. Rồi anh đi bộ đội, sang chiến trường Campuchia. Bị bệnh sốt rét hành hạ, anh Lạc xuất ngũ một năm sau đó. Trở về Sơn Hòa, anh lập gia đình. Hai vợ chồng mưu sinh trên rẫy. Đến khi anh Lạc ngã bệnh, vợ chồng anh phải chuyển nhượng 1,5ha đất rẫy để chạy chữa, thuốc thang. Không có tiền ghép thận, anh đành buông xuôi, mặc cho số phận. Anh được đưa về nhà và bị căn bệnh quái ác hành hạ, dẫn đến phù, co rút hai chân, không thể đi được. Khi đó, người đàn ông sinh năm 1967 này yếu đến mức được vợ và bạn dìu hai bên, cũng không còn sức để đứng lên.

Cứ ngỡ mình sẽ chết thì ngày nọ, anh Lạc hay tin ở Tuy Hòa có một người đào vàng bị hư cả hai quả thận, bệnh viện “chê”, trả về. Rồi bệnh nhân đó uống thuốc của một người dân tộc thiểu số ở Phú Túc (Krông Pa, Gia Lai) và khỏe mạnh trở lại.

Như người sắp chết đuối vớ được cọc, anh Lạc nhờ em trai lên Phú Túc, lặn lội tìm người đàn ông kia để mua thuốc. “Em tôi mua được 2 khúc cây, mỗi khúc dài khoảng nửa mét, to bằng cổ tay với giá 150.000 đồng, về nhà vạt mỏng, rang vàng hạ thổ rồi nấu sôi kỹ để tôi uống thay nước. Đêm đó, sau khi uống hết ấm thuốc đầu tiên, tôi rất mệt, nhưng sáng hôm sau thì thấy đỡ nhiều. Tôi liền bảo em lên Phú Túc mua thêm thuốc. Uống đúng một tháng thì khỏe, tôi đi siêu âm lại, bác sĩ bảo: Thận không có vấn đề gì” - anh Lạc tươi cười kể về chuyện mình đã thoát khỏi bệnh một cách kỳ diệu.

Cây thuốc đã được bào nhỏ - Ảnh: Y.LAN

CHIA SẺ NIỀM HY VỌNG

Khỏi bệnh, anh Lạc vô cùng tò mò muốn biết cây thuốc gì đã giúp mình bước qua “cửa tử” nên đem khúc cây đến gặp nhiều người dân tộc thiểu số sống ở địa phương để tìm hiểu. Tuy nhiên, tất cả đều lắc đầu, chẳng biết đó là cây gì. Bởi vì trước khi bán thuốc cho gia đình anh Lạc, người đàn ông ở Phú Túc đã chặt cây thuốc ra thành từng khúc và trên cây không còn một cái lá nào, vì vậy, người ta không thể “nhận diện” được.

Khỏe mạnh trở lại, anh Lạc tiếp tục làm rẫy và mua cây thuốc “trữ” trong nhà. “Mỗi lần lên Phú Túc, tôi mua từ 1 đến 2 triệu đồng tiền thuốc để dành trong nhà, ai cần thì tôi chia lại cho họ” - anh Lạc cho biết.

Cách đây 3 năm, anh Cao Văn Thìn ở thôn Nguyên Trang, đồng hương với anh Lạc, mắc bệnh sốt rét, sau đó tiểu ra máu rất nhiều. Anh Thìn đến bệnh viện khám thì được khuyên nhập viện để điều trị. “Lúc đó vợ tôi cũng bệnh, đang lúc mùa màng mà gia đình lại neo người nên tôi không nhập viện. Anh Lạc hay tin, đưa cho tôi một khúc cây, bảo về sắc uống thử. Tôi uống vào thấy đỡ, nước tiểu trong trở lại. Công nhận cây đó hay, cách sử dụng cũng rất đơn giản” - anh Thìn kể.

Anh Thìn cho biết sau khi uống hết 4 ấm thuốc, anh khỏi bệnh cho tới bây giờ. Khúc cây thuốc mà anh Lạc đưa, giờ vẫn còn một ít, anh Thìn cất kỹ, để dành. “Nó chẳng bị mối mọt gì cả, dù tôi cứ để khơi khơi như thế” - anh Thìn nói. Rồi, cũng như anh Lạc, anh Thìn rất tò mò muốn biết rốt cuộc đó là cây gì mà hay vậy. “Hai anh em đã lên Gia Lai mua thuốc và “theo dõi” người đàn ông đó vì muốn tìm ra gốc gác cây thuốc, nhưng mà không được” - anh Thìn tươi cười kể.

Không chỉ nhiều người dân ở thôn Nguyên Trang biết về cây thuốc “của anh Lạc”, mà người ở xa cũng gọi điện đến “đặt hàng”. Anh Lạc nói: Tôi đã chia thuốc cho rất nhiều người, gần có, xa có, giờ không thể nào nhớ hết. Có người ở Cam Ranh (Khánh Hòa), uống hết bệnh rồi mà vẫn mua thêm, nói là để “thủ” trong nhà. Một người tên Thi bị phù, ứ nước ở thận, uống thuốc hết bệnh rồi thì mua về bán cho dân trong vùng. Tít trong TP Hồ Chí Minh cũng có người điện ra tìm mua cây thuốc này”. 

Một trong những người ở TP Hồ Chí Minh đã mua thuốc của anh Lạc là anh Nguyễn Đức Thái, sống tại quận Thủ Đức. Qua điện thoại, anh Thái cho biết: “2 năm trước, thận của tôi bị ứ nước độ 2. Nghe người ta mách bảo, tôi mua thuốc của anh Lạc, uống chừng gần một tháng thì khỏi bệnh. Từ đó đến nay, tôi vẫn đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, kết quả đều ổn”. 

Theo lời anh Lạc, cây thuốc mà anh trữ trong nhà “chuyên trị” chứng suy thận, phù do bệnh về thận, thận ứ nước, tiểu ra máu do tổn thương thận, còn bệnh sỏi thận thì cây thuốc này “bó tay”. Khi phóng viên tỏ ý muốn biết “mặt mũi” cây thuốc, anh Lạc kêu vợ mang ra một khúc cây to bằng cổ tay trẻ con, có gai, màu vàng rất nhạt. Rồi anh mang ra một cái máy bào. Tì khúc cây vào cửa, anh Lạc bắt đầu bào và dăm xối xả văng ra. Chốc sau, anh đã có một vốc to dăm mỏng bào từ cây thuốc, có mùi hăng rất nhẹ. Anh Lạc hướng dẫn: Đem cái này rang vàng, hạ thổ rồi cho vào ấm đất, đổ 4 chén nước, đun sôi kỹ rồi uống thay nước, thế thôi. Một ấm thuốc nấu từ 2 đến 3 nước mới bỏ. Cũng theo anh Lạc, người bị suy thận phải uống từ nửa tháng đến một tháng mới có kết quả, còn người bị phù do bệnh về thận thì chỉ cần uống trong năm mười ngày. 

“Có người ở TP Tuy Hòa điện lên hỏi về cây thuốc, rồi hỏi là có cần đưa bệnh nhân đến để bắt mạch không. Trời, tôi đâu phải là thầy thuốc. Tôi may mắn biết được cây thuốc này, cứu được mình, sau đó thì giúp cho bà con thôi” - anh Lạc nói.

Bạn đọc có nhu cầu liên lạc với anh Ngô Sĩ Lạc, thì liên lạc theo số điện thoại: 0168.614.6886. 

Trao đổi xoay quanh cây thuốc “bí ẩn” đang được anh Ngô Sĩ Lạc chia sẻ với nhiều người mắc bệnh thận, đông y sĩ Lê Văn Phước ở TP Tuy Hòa - người đã có nhiều năm sưu tầm, giới thiệu những cây thuốc quý - nói: Muốn biết đó là cây gì, hoạt chất của nó như thế nào thì phải gửi tiêu bản đến Viện Dược liệu để các nhà chuyên môn xác định.
Cũng theo ông Phước, trong nhiều trường hợp, thổ nhưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc chiết xuất được dược liệu từ cây thuốc. Và phải thu hái đúng quy trình, nếu thì cũng không có tác dụng.
YÊN LAN
BÌNH LUẬN

Tuesday, December 30, 2014

12 câu nói muôn đời giá trị của Khổng Tử



Là nhà tư tưởng, nhà triết học nổi tiếng lịch sử Trung Quốc, Khổng Tử đã để lại cho đời nhiều câu nói có giá trị đến muôn đời sau.
IMG_4206.JPG
1.Biết có lỗi mà không sửa thì đó chính là lỗi.
2.Người không có chữ tín sẽ chẳng làm nên việc gì.
3.Sự nghiệp chớ nên cầu mong không có chông gai, trắc trở vì không có chúng thì ý chí sẽ không kiên định.
4.Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi.
5.Đừng mong người khác thuận theo ý mình vì nếu được người khác thuận ý sẽ tất sinh tự kiêu.
6.Làm việc đừng mong dễ thành công. Vì nếu dễ thành công thì bản thân thường kiêu ngạo.
IMG_4203.JPG
7.Không nhìn điều sai trái, không nghe điều xằng bậy, không nói điều sai, không làm điều càn quấy.
8.Điều mình không thích thì đừng làm cho người khác. Đối với quê hương, gia đình nên tránh gây thù, chuốc oán.
9.Người không có nhận thức sâu xa sẽ có ngày sẽ gặp phiền muộn, âu lo.
10.Mọi thứ đều từ hư vô mà ra.
11.Dùng thì đừng nghi, nghi thì đừng dùng.
12.Ngồi bàn tiệc đừng ra vẻ anh hùng vì rượu đã làm cho nhiều người gục ngã.
IMG_4202.JPG

Sunday, December 28, 2014

Uống nước tỏi mật ong, con hết ho tức thì


Từ ngày tình cờ phát hiện ra công thức trị ho cho trẻnày, mỗi khi con bị ho hắng, sổ mũi hay cảm lạnh…lòng em chẳng còn nóng như lửa đốt.
....
Em vỡ ối, chuyển dạ sớm nên con phải sinh mổ, lại đúng đợt gió mùa đông bắc rất lạnh. Có lẽ cũng vì lý do đó nên ngay từ lúc mới sinh, hệ hô hấp của Nhím đã kém hơn các bạn. Không cứ mùa đông hay mùa hè, hầu như cứ 1,2 tháng con lại bị ho một lần, mỗi lần kéo dài cả tuần, thậm chí cả tháng mới hết. Đến nay đã được gần 2 tuổi, em đếm không hết bao nhiêu lần Nhím phải đi khám, uống đủ loại siro và thậm chí cả kháng sinh mà bác sỹ kê.




Đợt này thời tiết miền Bắc trở lạnh, hầu hết các bạn nhỏ đều bị ho, sổ mũi nên Nhím cứ khỏi được 4,5 ngày thì đi mẫu giáo lại bị lây bạn. Bao nhiêu mẹo trị ho dân gian để cả những loại siro đắt tiền của Nhật, Pháp, Mỹ…em đều đã thử qua cho con. Vậy nhưng Nhím uống hết nguyên lọ mà tình hình vẫn không thấy đỡ. Nhìn con ho đỏ bừng mặt, cả đêm cứ đang ngủ lại bật dậy ho rồi khóc, đờm trong họng nghe đặc quánh mà không thể tự thải ra, cả gia đình em lo lắng mất ăn mất ngủ. Ông bà và chồng cứ giục giã đưa con đi khám nhưng em thì chần chừ không muốn. Nhím đi khám cũng đã nhiều nơi, đơn thuốc vẫn vậy: siro ho và kháng sinh. Em không muốn con phải tiếp tục như vậy.
Uống nước tỏi mật ong, con hết ho tức thì - 1
Mùa đông, tháng nào con cũng ho, sổ mũi mất 1,2 tuần (ảnh minh hoạ)
Đêm hôm ấy, nửa đêm đang ngủ, Nhím lại tỉnh giấc, ho liên tục 15 phút không nghỉ. Nhớ đến lọ siro tự chế bằng hành tỏi mật ong theo công thức của mẹ Tây mà có lần em tình cờ đọc được, đã tự làm mà chưa dám cho con uống vì sợ mùi hăng con không chịu, em quyết định lấy ra cho Nhím thử xem sao. Kết quả thật bất ngờ, sau khi uống một thìa “thuốc lạ” của mẹ, Nhím đột nhiên ho rồi sặc ra một cục đờm rất to. Tối đấy, con ngủ ngon hẳn không còn một tiếng động nào suốt đêm. Uống thêm 2 ngày nữa thì hầu như mọi triệu chứng hắt xì, chảy nước mũi, ho đờm của con gần như hết hẳn.


Từ ngày tình cờ phát hiện ra công thức này, mỗi khi con bị ho hắng, sổ mũi hay cảm lạnh…lòng em chẳng còn nóng như lửa đốt, cứ thong thả “chế thuốc ho” rồi cho con uống, hầu như không lần nào Nhím ho quá 3 ngày. Bản thân Nhím cũng rất thích uông “thuốc ho” này vì nó không hề có mùi hành, tỏi như em vẫn lo. Tuy nhiên để đảm bảo, sau khi ngâm xong, em luôn cẩn thận chắt nước riêng, hành tỏi bỏ đi để con không phát hiện ra.

Công thức này em đã mách cho nhiều người để trị ho cho trẻ, đều rất hiệu nghiệm. Chị em đang có con bị ho cùng thử xem sao nhé!

- Hành tím 1 củ
- Tỏi nhỏ 2 củ hoặc tỏi to 1 củ
- Hành tỏi bóc vỏ rửa sạch, thái khoanh tròn.
Uống nước tỏi mật ong, con hết ho tức thì - 2
Hành tỏi bóc vỏ rửa sạch, thái khoanh tròn.
- Cho hành tỏi đã thái vào lọ, đổ mật ong ngập miệng rồi ngâm qua đêm hoặc 12 tiếng.
Uống nước tỏi mật ong, con hết ho tức thì - 3
Cho hành tỏi đã thái vào lọ
Uống nước tỏi mật ong, con hết ho tức thì - 4
Đổ mật ong ngập miệng rồi ngâm qua đêm hoặc  8 -12 tiếng
- Chắt hành tỏi bỏ đi, lấy nước siro cho con uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 1 thìa cafe. Bảo quản trong nhiệt độ phòng.
Uống nước tỏi mật ong, con hết ho tức thì - 5
Nước hành tỏi mật ong cho con uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 1 thìa cafe
Chúc mẹ thành công!

Người Nhật Bản làm việc như thế nào






Nguồn từ Kicbu! Thanks Kicbu! 

http://kichbu.blogspot.com/2014/12/nguoi-nhat-ban-lam-viec-nhu-nao.html 

Как работают японцы


Маria Karpova

Kichbu theo: zavtra.ru
Nhân viên công ty Epson kể

Có suy nghĩ khuôn sáo rằng ở Nhật Bản làm việc tốt. Ý kiến này xuất phát từ những đồng hương của chúng ta đang làm việc theo lời mời của các công ty nước ngoài, nơi người Nhật cố gắng để điều chỉnh theo mức độ và phong cách của người nước ngoài. Trong khi đó, hệ thống lao động truyền thống của Nhật Bản được tổ chức độc đáo, và tồn tại trong đó khá nặng nề. Chính  vì vậy  người nước ngoài thăng tiến trong các công ty Nhật Bản cổ điển không nhiều đến vậy. Nhân viên của công ty Epson, Marina Matsumono kể về nhân viên văn phòng bậc trung ở Nhật Bản làm việc như thế nào.

Quy định ăn mặc.

Dĩ nhiên, các quy tắc phụ thuộc vào công ty cụ thể, nhưng về nguyên tắc quy định ăn mặc tại Nhật Bản chặt chẽ hơn nhiều so với ở Nga. Việc không tuân thủ các quy tắc của nó sẽ mang lại những hậu quả nghiêm trọng đối với nhân viên, cho đến mức bị sa thải ngay lập tức.

Trong công ty truyền thống của Nhật Bản nhất thiết phải mặc trang phục màu đen bất kể thời tiết, ngay cả khi ngoài trời  +40. Người Nhật Bản chịu đựng một cách bình thản cả lúc nóng bức, cả giá lạnh, bởi họ trải qua sự tôi luyện khốc liệt đối với cơ thể khốc liệt từ tấm bé. Gần đây đã một luật mới cho phép mặc áo ngắn tay đến nơi làm việc. Điều này liên quan đến lý do buộc phải tiết kiệm điện, khi bây giờ trong các văn phòng ngay cả trong điều kiện thời tiết nóng bức không phải lúc nào cũng sử dụng máy điều hòa không khí.

Trong một số công ty, phụ nữ bị cấm mặc trang phục gây chú ý - trang phục phải tuyệt đối đứng đắn. Váy nhất thiết phải phủ đầu gối.

Đồ nữ trang cũng bị cấm. Tôi có một công ty quan trọng, nổi tiếng thế giới. Nhưng nơi tôi làm việc hầu hết là người Nhật Bản. Tại nơi làm việc của tôi, họ cho phép tôi được đeo chỉ thánh giá - phía trong áo để không ai trong thấy nó, và nhẫn cưới.

Trang điểm không nên lộ rõ. Phụ nữ Nhật Bản thích tô điểm rực rỡ, đôi má rất ửng hồng, hầu hết dùng lông mi giả. Nhưng tại nơi làm việc, phụ nữ nên nom càng ít thu hút đàn ông càng tốt.

Ở một số nơi, phụ nữ chỉ nên để tóc ngắn, không phủ kín tai. Màu tóc - phải là màu đen. Nếu do tự nhiên, chẳng hạn, cô gái tóc vàng - cần phải nhuộm tóc.

Đàn ông ngoại trừ mái tóc để dài, bị cấm để râu quai nón và ria mép. Đó một quy tắc bất thành văn mà tất cả mọi người đều biết. Lối sống ổn cố Yakuza (hình thức truyền thống của tổ chức tội phạm ở Nhật Bản) ngăn cản.

Quan hệ tùng thuộc.

Khi được bố trí vào làm việc, tôi đã ký một loạt các văn bản, nơi tôi cam kết rằng tôi sẽ không trao đổi với khách hàng và đồng nghiệp bất kỳ điều gì ngoài công việc: cả về thời tiết, cả về thiên nhiên. Tại nơi làm việc tôi không có quyền chia sẻ "các dữ liệu cá nhân" của mình - chồng tôi là ai, công việc của tôi như thế nào... Ở nhà, tôi không có quyền kể về công việc của mình. Công việc của tôi không bí mật, nhưng đã chấp nhận và thỏa thuận như vậy trong hợp đồng của tôi.

Đến nơi làm việc chỉ được mang theo những vật dụng cần cho công việc: đối với tôi đó là tài liệu và cây bút. Túi xách, ví tiền và điện thoại tôi không thể mang theo, tất cả phải được để lại ở chỗ kiểm soát ra vào.

Ở Nga có một câu nói được ưa thích: "Xong việc - chơi thoải mái". Tại nơi làm việc ở Nga điều chủ yếu là bạn hoàn thành kế hoạch của hôm nay. Ở Nhật Bản "kế hoạch của hôm nay" không làm ai bận tâm. Bạn đã đến nơi làm việc, và phải làm việc tại đó.

Người Nhật kìm hãm quá trình làm việc như thế nào.

Ở Nga, tất cả chúng ta đều biết rằng tiền lương phụ thuộc vào kết quả công việc của bạn. Nếu làm việc kém - bạn chẳng nhận được gì cả. Nếu làm việc tốt - bạn sẽ được nhận tiền thưởng và thăng tiến trong công việc. Nếu bạn đã hoàn thành tất cả công việc, có thể về sớm hơn hoặc xin làm việc bổ sung để kiếm được nhiều tiền hơn.

Ở Nhật Bản trả tiền theo giờ làm việc. Hầu như tất cả người Nhật Bản nhận tiền làm ngoài giờ. Nhưng điều này thông thường biến thành thực tế là họ kéo dài một công việc có thể thực hiện trong vòng hai giờ - thành một tuần. Thời hạn được quy định bởi công ty cũng không phải luôn luôn tương ứng với mức độ phức tạp của công việc. Người Nhật Bản sẽ dềnh dàng hàng giờ, chúng ta cảm tưởng  rằng họ làm việc vật vờ, còn họ cho rằng đang thực hiện công việc "chăm chỉ". Họ đang kìm hãm quá trình làm việc thật không thể tưởng tượng nổi, bởi vậy làm việc với họ chúng tôi thật khó khăn.

Và, tiện thể nói thêm, đây là một trong những nguyên nhân, theo đó nền kinh tế của họ không phải ở trạng thái tốt nhất. Với hệ thống trả lương theo giờ, họ đã đưa mình vào bẫy. Bởi, trên thực tế, công việc không nhắm vào chất lượng, mà là số giờ tại văn phòng.

Những cuộc trao đổi tràng dang đại hải kéo dài

Chúng ta đều biết rằng "ngắn gọn - mẹ đẻ của tài năng", ở Nhật Bản ngắn gọn - đó là thiển cận trí tuệ. Người Nhật Bản không thể nói một cách ngắn gọn ngay cả về công việc. Họ rơi vào giải thích lê thê và tràng dang mà chúng chỉ nhắm để một người thiển cận hiểu họ nói gì với người ấy. Các cuộc họp có thể kéo dài với hàng giờ không thể tin nổi. Người Nhật Bản cho rằng nếu họ nói nhiều và rất chi tiết về một và chỉ một việc, thì như vậy họ tôn trong người đối thoại.

Phân tầng của xã hội.

Để trồng lúa cần rất nhiều công việc và tổ chức. Bởi vậy, trong lịch sử tại Nhật Bản đã hình thành hệ thống lao động chuyên môn rất hẹp và phân tầng xã hội gay gắt. Mỗi người có nhiệm vụ riêng của mình vị trí của mình trong quá trình sinh sống sản xuất.

Các cộng đồng Nhật Bản luôn luôn được tổ chức rạch ròi. Chẳng hạn samurai không bao giờ chuẩn bị bữa ăn cho bản thân, samurai có thể dễ dàng chết đói nếu như nông dân không cứu giúp.

Như hệ quả của tâm lý này, bất kỳ người Nhật Bản nào thường rất khó tự mình ra quyết định mà không vốn cố hữu theo địa vị. Họ không thể nhận về mình trách nhiệm tối thiểu, mà nó vượt ra ngoài khuôn khổ công việc hàng ngày thông thường của họ thế nào đó. Đặt một dấu phẩy hoặc không đặt - đây cũng là vấn đề mất cả nửa ngày. Chuẩn bị các tài liệu đơn giản - đó là chuỗi của các tham vấn bất tận. Hơn nữa, trách nhiệm của những cuộc tham vấn như vậy làm kinh ngạc. Nếu người lao động dù sao lấy cho mình lòng dũng cảm ra quyết định không theo địa vị, thì tất cả mọi người trong chuỗi tầng bậc liên quan đến người đó sẽ bị khiển trách. Đây là chuyên chế phương Đông trong hành động: "Tôi - con người nhỏ bé, tôi - một người nông dân bình thường, và tôi còn phải làm công việc chỉ dành cho tôi".

Một lần nữa, tất cả mọi vấn đề đều lý giải được: Nhật Bản - một đất nước nhỏ bé với dân số quá lớn, cần  những khuôn khổ và quy tắc nghiêm ngặt. Để sống được ở Nhật Bản - cần nhận thực rõ: giới hạn của tôi là ở đây, và còn đây là giới hạn của người khác, tôi phải tôn trọng . Không ai vượt ra ngoài phạm vi của mình. Nếu người Nhật Bản vượt ra ngoài khôn khổ, thì họ sẽ bị mất hút đúng trong nghĩa đen.

Nga là đất nước mênh mông, rộng lớn. Chúng ta không bị bó hẹp. Chúng ta phóng khoáng. Người Nga có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Và người Thụy Điển, và các những người dân tộc khác… - đây trước hết nói về chúng ta, những người Nga!

Cũng như tất cả mọi người.

Điều thú vị rằng, ở Nhật Bản bạn không nên thể hiện sự khác biệt hoặc ưu thế về trí tuệ. Bạn không thể bày tỏ tính độc đáo, riêng biệt của mình. Điều này không được chào đón. Tất cả cần phải giống nhau. Từ nhỏ ở đó tính độc đáo đã bị tận diệt, bởi vậy Nhật Bản sẽ không mang lại cho thế giới Einstein hay Mendeleev.

Các công nghệ nổi tiếng của Nhật Bản - huyền thoại. Như quy luật, đó là những ý tưởng được hình thành không phải bởi người Nhật Bản. Họ biết làm tốt việc gì, thì đó là khéo léo bắt chước đúng lúc và hoàn thiện điều này. Còn chúng ta ngược lại - chúng ta có thể tạo ra điều vĩ đại và quên ...

Để tồn tại được trong xã hội Nhật Bản, bạn cần phải giống như mọi người. Ở Nga, trái lại, nếu bạn cũng giống như mọi người - bạn sẽ bị mất hút. Luôn cần những ý tưởng mới để chinh phục và lấp đầy không gian rộng lớn.

Thăng tiến.

Trong công ty cổ điển Nhật Bản, người ta xây dựng con đường thăng tiến lâu dài. Thăng tiến nghề nghiệp phụ thuộc vào độ tuổi, chứ không phải công lao. Một chuyên gia trẻ, thậm chí rất tài năng sẽ giữ chức vụ không quan trọng, phải làm nhiều việc và lương thấp, bởi vì anh ta người mới. Vì tổ chức quá trình lao động như vậy, người Nhật Bản phải cạnh tranh ngày càng khó khăn trên thị trường quốc tế. Đúng vậy, tồn tại khái niệm chất lượng Nhật Bản, nhưng điều này không cứu được họ, bởi vì kinh doanh được thực hiện quá ư là Nhật Bản.

Lương.

Chính thức tại Nhật Bản lương cao. Nhưng trừ tất cả các khoản thuế, chiếm xấp xỉ 60%, mọi người được nhận tận tay trung bình một nghìn dollars. Những người trẻ tuổi nhận được thậm chí ít hơn. Vào tuổi 60, lương món tiền khá lớn.

Kỳ nghỉ và những ngày nghỉ.

Tại Nhật Bản, không có kỳ nghỉ. Ngày nghỉ - đó là thứ Bảy hoặc Chủ Nhật. Và tùy thuộc vào công ty mà bạn thể có một số ngày nghỉ bổ sung trong năm. Chẳng hạn, 10 ngày, nhưng không thể nghỉ ngay lập tức. Cần phải chia nhỏ các ngày nghỉ. Chẳng hạn như lấy một ngày nghỉ trong tuần - và đi đâu đó theo công việc. Ở công ty của tôi, tôi có nghĩa vụ phải thông báo về điều này trước một tháng để tất cả mọi người hợp lại và thay thế tôi. Trong số các công ty khác, những thời hạn còn thậm chí nhiều hơn. Một sự kiện bất ngờ vắng mặt tại nơi làm việc là cả vấn đề.

Nếu bạn bị ốm vào thứ hai và không nghĩ rằng không đi làm việc,thì họ sẽ không hiểu bạn. Tất cả mọi người hăng hái đi làm việc.

Ngày lễ có thể là ngày nghỉ: ngày tưởng nhớ người chết - Obon vào trung tuần tháng Tám. Nhưng chuyên gia trẻ này không có cơ hội này, và phải làm việc hay năm đầu tiên không có ngày nghỉ thêm.

Năm mới được nghỉ 1-3 ngày. Nếu chúng trùng vào thứ Bảy và Chủ nhật, thì không như ở Nga, không ai chuyển ngày nghỉ sang thứ Hai thứ Ba.

Còn có thêm "tuần lễ vàng" vào tháng Năm, khi diễn ra liên tục những ngày lễ tôn giáo và nhà nước. Chồng tôi làm việc cả các ngày, tôi có 3 ngày nghỉ.

Ngày làm việc.

Ngày làm việc tiêu chuẩn từ 9 giờ sáng đến 7 giờ tối. Nhưng điều quan trọng nhất, bạn cần nhớ rằng, nếu đã quy định ngày làm việc từ chín giờ, thì không nên đến đúng giờ này.Thậm chí nếu bạn đến vào lúc 8.45 - xem rằng bạn đã bị muộn. Cần phải đến nơi làm việc ít nhất trước nửa giờ, một số đến trước một giờ. Cho rằng con người cần thời gian để lấy tinh thần làm việc, chuẩn bị cho công việc.

Kết thúc ngày làm việc chính thức không có nghĩa rằng bạn có thể về nhà. Không chấp nhận về trước sếp của mình. Nếu sếp còn nán lại văn phòng thêm hai giờ, thì bạn cũng phải ở lại thêm hai giờ nữa, và điều này không được tính là làm ngoài giờ. Những trường hợp cá nhân của bạn - đó là vấn đề của bạn mà như tôi đã đề cập, theo hợp đồng tôi đã ký với đồng nghiệp, là không trao đổi.

Tiếp xúc ngoài giờ.

Ở Nhật Bản có khái niệm như thế này - "nomikay" - "uống với nhau", gợi nhớ đến phường hội Nga. Đâu đó "nomikay" diễn ra hàng ngày, trong công ty của tôi - hai lần một tuần. Dĩ nhiên, có thể từ chối, nhưng họ sẽ "ngấm nguýt" bạn. Tại sao uống? - Bởi vì ở Nhật Bản xem uống  rượu với thái độ tích cực. Thần  đạo Shinto muốn làm lễ tế cho các vị thần thông qua rượu. Các bác sĩ Nhật Bản cho rằng uống rượu hàng ngày là hữu ích. Không ai nói uống bao nhiêu là vừa.

Người Nhật Bản không biết uống rượu, và, thường uống rất say. Với bạn việc uống sẽ chẳng đáng giá bao nhiêu, hoặc là sếp, hoặc là công ty luôn luôn trả tiền cho chầu rượu.

Bây giờ, để kích thích thêm viếc đến các quán bar với các đồng nghiệp - người lao động bắt đầu thậm chí trả tiền cho "nomikay." Đây là một phần của văn hóa Nhật Bản - cùng nhau làm việc và cùng nhau uống. Vậy ra rằng gần như 24 giờ một ngày của 365 ngày một năm bạn chỉ dành thời gian chỉ với các đồng nghiệp.

Ngoài "nomikay", cần phải uống với khách hàng, đối tác, quan chức mà công ty có quan hệ.

Thật vậy, ở Nga có cái gì đó tương tự, nhưng điều đó hoàn toàn không thể so sánh với quy mô uống rượu như ở Nhật Bản. Đúng vậy và sau đó ở Nga người ta xem uống rượu xấu xa hơn nhiều.

***

Bây giờ bạn có thể hình dung bức tranh toàn cảnh. Người Nhật Bản ra khỏi nhà lúc 7 giờ sáng. Tại nơi làm việc, nó tồn tại trong khuôn phép nghiêm ngặt theo địa vị của mình. Sau khi kết thúc ngày làm việc chính thức mọi người sẽ làm thêm giờ, bởi cần họ nuôi sống gia đình. Sau đó họ  đi uống rượu với các đồng nghiệp trở về nhà từ đó lúc 2 giờ sáng, có nhiều khả năngsay. Họ làm việc vào các ngày thứ Bảy. Chỉ thấy gia đình mình vào ngày Chủ nhật.  Thêm vào đó họ ngủ hoặc uống rượu suốt ngày nghỉ cho đến tối, bởi vì họ bị căng thẳng khủng khiếp vì chế độ làm việc như vậy.

Ở Nhật Bản, có một khái niệm riêng biệt - "Chết vì quá nhiều việc". Đó  chuyện rất thường xảy ra khi người ta chết sau bàn làm việc hoặc, không chịu được sức ép, đã kết  thúc cuộc đời mình bằng tự tử. Đối với Nhật Bản, đó là sự kiện thường tình, mà thực tế họ không phản ứng với nó. Người ta thậm chí sẽ nổi giận nếu ai đó tự tử gây khó dễ cho công việc của họ. Mọi người đều nghĩ rằng: "Tại sao cậu không làm điều này ở một nơi kín đáo, yên tĩnh, tôi vì cậu sẽ không đi làm đúng giờ !!".

Cần phải hiểu rằng xã hội Nhật Bản không ngồi yên và không nghĩ ra cho mình các quy tắc này. Tất cả  hình thành vì đặc trưng lịch sử và địa lý của Nhật Bản. Có lẽ, tất cả sẽ đồng ý rằng họ có những lý do xác đáng để động viên như vậy của xã hội, luôn luôn sẵn sàng cho bất cứ điều gì đó. Lãnh thổ nhỏ, đông dân, chiến tranh, động đất, sóng thần - vào bất cứ lúc nào tất cả đều có thể sụp đổ. Vì vậy, người Nhật từ thời thơ ấu đã học được cách làm việc theo nhóm, học  để tồn tại trên một rẻo đất của mình. Trong thực tế, toàn bộ nền giáo dục Nhật Bản được xây dựng không phải để dạy cho con người điều gì đó, phát triển nó, dạy cho con người trở thành người Nhật Bản thực sự, trở thành người có khả năng cạnh tranh chính trong xã hội Nhật Bản.. Không phải tất cả mọi người có thể chịu đựng nổi cuộc sống này, bởi vì điều này thực sự khó khăn.

Saturday, November 22, 2014

Những lý luận trường tồn và những câu nói để đời

Nguyễn Ngọc Lanh

Công, Đức, Ngôn. Và danh hão

Ai cũng muốn thành công khi lập nghiệp, lập thân. Nhiều người, nhờ tài năng và nỗ lực, đã đạt được những thành tựu xuất chúng, được hậu thế ghi nhớ. Triết học phương Đông chia họ thành 3 loại: Lập công (Trần Hưng Đạo, Lê Lợi...), lập đức (Chu Văn An, Lãn Ông...) và lập ngôn (Nguyễn Du, Phạm Quỳnh...). Xin nói ngay: phải để hậu thế đánh giá mới khách quan. Trong lịch sử, nhiều vị đã "lập danh" (tể tướng, thái sư, vua...) mà hậu thế chỉ coi là "hư danh". Ở tuổi 80, cái huy hiệu 50 năm và cái danh hiệu NGND của tôi liệu có trở thành "hão" (như ở Liên Xô, sau khi chế độ xô viết sụp đổ)?.

Đảng đang cầm quyền, dù đã 70 năm, vẫn khó đánh giá khách quan về Công và Đức (dù sách giáo khoa Lịch Sử cứ làm), còn đánh giá về Ngôn có lẽ dễ hơn, vì nó "sờ sờ ra đó" dưới dạng câu chữ, lời nói, văn bản... Cơ hội lập ngôn thường dành cho các vị có nhiệm vụ đề xuất (và giảng huấn) lý luận, như tổng bí thư, trưởng ban tuyên giáo, chủ tịch hội đồng lý luận. Trước tuổi tôi có các cụ Lê Duẩn, Nguyễn Đức Bình... Sau tuổi tôi có các cụ Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Đinh Thế Huynh... Riêng cụ Đinh Thế Huynh đã lập ngôn ("Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên đa đảng") ngay từ khi chưa đủ tuổi để lên "cụ". Quả là khả úy.

Một cách lập ngôn mới?

Đọc một bản khai, có những câu: Họ và tên: Lê A do ông nội đặt. Năm sinh: 1945 nhiều sự kiện. Nơi sinh: Phú Thọ đất tổ... vân vân, chúng ta sẽ không nghĩ đó là đơn xin việc. Nhưng nếu... đúng đó là đơn xin việc, người xét đơn sẽ nhớ rất lâu cái đơn này; vì đương sự đã thêm những tính ngữ – tuy đẹp – nhưng lạc đề. Vậy, một cách "lập ngôn" là đưa ra những câu với cấu trúc và nội dung buộc mọi người phải cau mày suy đoán.

Ví dụ, người đứng đầu một tổ chức chính trị, nếu tuyên bố: Chúng ta có chính nghĩa; thì một ẩn ý là: Chúng nó không có chính nghĩa. Nhưng nếu ông ta thêm tính từ (đẹp) vào câu trên, thì thành chuyện khác ngay. Chẳng hạn, câu: Chúng ta có chính nghĩa rạng ngời, sẽ gợi ra ẩn ý là: Chúng nó (cũng) có chính nghĩa (nhưng) chưa/không rạng ngời.

Câu này đã được VTV đưa lên, nay vẫn tồn tại trên mạng. Hy vọng nó sẽ sống dai hơn người phát ngôn. Phần tôi, tôi nhớ lâu câu trên, vì khi học tiểu học (dưới thời thuộc Pháp) đã được các thầy dạy rất kỹ về phân tích ngữ pháp (analyse grammaticale).

Những hệ thống lý luận để đời và sự kết tinh thành danh ngôn

Lý luận Tam Quyền khá dài, nhưng kết tinh bằng một danh ngôn mà cụ thủ tướng đã sử dụng trong Thông Điệp tân niên 2014. Tôi mong rằng các vị Tổng Bí thư, Tuyên giáo... cũng có những danh ngôn để đời, khiến hậu thế phải nhớ và nhắc mãi.

Bài này chỉ xin nêu sự nghiệp lập ngôn của một số nhà lý luận mà tôi khâm phục, nhờ đọc các tác phẩm của họ khá sớm, thường là ngay sau khi chúng được xuất bản.

- Cụ Lê Duẩn, Tổng Bí thư 16 năm (+ 101 ngày). Có lẽ cụ muốn để đời 2 sự nghiệp:

a) Về Công: đó là Giải phóng miền Nam. Cụ là tác giả chiến lược cách mạng ở miền Nam với tác phẩm Đề cương cách mạng miền Nam. Xin để Lịch Sử đánh giá.

b) Về Ngôn: đó là Hệ thống lý luận về quyền làm chủ tập thể. Xin những vị hôm nay dưới 60 tuổi hãy hỏi các cụ trên 70 tuổi để biết họ đã tốn bao giấy mực, công sức, thời gian, tiền của... để thấm nhuần cả một hệ thống lý luận đồ sộ về làm chủ tập thể.

Một danh ngôn: Ngày 13-3-1977, tại trường Nguyễn Ái Quốc, cụ Lê Duẩn nói:

"Loài người đến nay đã có ba phát minh vĩ đại có ý nghĩa bước ngoặt của lịch sử. Thứ nhất là tìm ra lửa. Thứ hai là tìm ra cách sử dụng kim khí. Thứ ba là làm chủ tập thể".

Tiếng nói trái chiều: Đại khái, cũng rôm rả như thời nay mọi người đang bàn về thị trường có định hướng.

- Nhà khoa học Tạ Quang Bửu, trong một hội nghị về Đào tạo sau đại học, phát biểu rằng "Toán học đã trừu tượng, nhưng khái niệm làm chủ tập thể còn trừu tượng hơn".

- Câu lưu hành rộng rãi: Làm chủ tập thể là... chẳng ai làm chủ sất.

- Năm 1975, Tổng thống miền Nam Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho đạo quân Tây Nguyên (sắp tan vỡ) được "tùy nghi di tản" bị người dân vạch trần bằng câu tục ngữ: Đó là tổng thống cho phép... mạnh ai nấy chạy. Cùng thời, câu của cụ Lê Duẩn cũng được dân giải thích bằng tục ngữ: Làm chủ tập thể thực chất là "Cha chung không ai khóc"...

- Trái chiều nhất là Đảng ta không thèm nhắc tý gì đến lý luận "làm chủ tập thể" nữa, kể cả trong Cương Lĩnh 1991 (cụ Duẩn mất mới được 5 năm), trong khi đó Cương Lĩnh này khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Đối xử với tiền bối như vậy, mong gì hậu duệ sẽ đối xử phải đạo với các nhân vật hiện thời?

- Cụ Nguyễn Đức Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia. Cụ có cách lập luận độc đáo, sáng tạo, để chứng minh sứ mệnh lãnh đạo của đảng là do lịch sử trao cho. Cụ cho rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam kết thúc sứ mệnh lịch sử kể từ khi Khởi nghĩa Yên Thế thất bại (1913), phải trao ngọn cờ cho giai cấp tư sản". Nhưng giai cấp này cũng kết thúc sứ mạng sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại (1930). Thế thì, đương nhiên sứ mạng lịch sử được trao cho giai cấp công nhân. Chỉ có điều... trong Lịch Sử nhân loại, các chế độ thay thế nhau (Phong kiến - Tư bản – Xã hội Chủ nghĩa) tốn hàng ngàn năm, nhưng ở Việt Nam, cụ Bình chỉ cho phép diễn ra trong vòng vài ba chục năm. Sáng tạo đến thế là cùng...

- Cụ Nguyễn Phú Trọng, cương vị giống cụ Bình, lại thêm chức Tổng Bí thư, nên rất thuận lợi khẳng định lý luận của mình trong Đảng. Cái khó, là uy tín của Đảng không còn như xưa. Các giá trị của cách mạng tư sản cứ ào ạt xâm nhập nước ta, được Đảng đối phó bằng cách gắn cho chúng tính từ “xã hội chủ nghĩa”. Ví dụ: dân chủ xã hội chủ nghĩa, pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mái trường xã hội chủ nghĩa... (khá lơ mơ, đến nỗi có ý kiến cần làm rõ cái tính từ này ra).

Nhưng đến khi Việt Nam phải công nhận kinh tế thị trường – vốn bị coi là "đặc trưng tư bản" – chúng ta phải thay đổi cách đối phó, sao cho vẫn vào được WTO, mà vẫn bảo vệ được chủ nghĩa xã hội. Đây là cơ hội để cụ Nguyễn Phú Trọng lập ngôn.

1- Bài viết chính

Bài gói ghém toàn bộ tư duy của cụ Trọng, có tên: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Quan niệm và Giải pháp phát triển được đăng năm 2003 trên tạp chí Cộng sản. Bốn năm sau (tháng 1-2007) bài này được đăng lại, đúng vào dịp cụ dẫn phái đoàn sang Trung Quốc "trao đổi kinh nghiệm về CNXH và Kinh tế thị trường". Quan điểm hai bên chưa "khớp" nhau, nhưng thống nhất rằng: Kinh tế thị trường có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là bước đột phá trong tư duy lý luận của hai Đảng.

- Đọc bài, ngoài những gì đương nhiên cụ Trọng phải nói, ví dụ đây là mô hình mới trong lịch sử..., là đặc thù của Việt Nam ở thời kỳ quá độ... người ta chú ý tới biện pháp (phần III – Làm thế nào để phát triển được kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam?). Té ra, nó không mới lắm. Ví dụ, kinh tế nhà nước là chủ đạo; và giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng trong kinh tế... Thành tựu kinh tế như hôm nay không hiểu do đã làm tốt, hay làm chưa tốt, các biện pháp đã nêu.

2- Danh ngôn và vài lời bàn


Câu này tương đương với danh ngôn của cụ Lê Duẩn (về làm chủ tập thể), đã nói ở trên.

- Nhà nước ta không tam quyền phân lập.

Câu này trường tồn trong phạm vi "Đảng còn, nó còn" (muôn năm?).

- “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng” (VnExpress)

Đây là sự sắp xếp của Đảng Cộng sản về thứ tự quan trọng của hai văn bản: Văn bản của 90 triệu người và của 3 triệu người (là con em của 90 triệu). Câu này mới, vì do Tổng Bí thư nói ra miệng, chứ rất lâu trước đó Đảng đã nói bằng hình tượng rồi (cờ Đảng được đặt cao hơn cờ Tổ quốc).


Nói ngược danh ngôn cũng thành... danh ngôn?

- Cụ Tổng Bí thư chỉ còn hai năm để tìm tòi tiếp về lý luận và mô hình trên thực tế, một Ủy viên trung ương, Bộ trưởng, lại nói: Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm. Thôi, đây là chuyện riêng của đảng.
- Chuyện khác: Cụ Lê Quý Đôn (sinh 1726) có câu "Phi trí bất hưng", được dân ta coi là danh ngôn. Một người bên Trung Quốc sinh sau 167 năm, nói một câu ngược lại: "Trí thức không bằng cục phân"... cũng thành "danh ngôn".
Có người bảo, trong hai năm tới nếu cụ Tổng Bí thư... nói ngược lại "danh ngôn" của chính mình, cũng sẽ thành danh ngôn. Chẳng biết có đúng không?
N. N. L.

Điển tích Lã Vọng và cứ liệu văn học

  • Vài lời thưa cùng độc giả:
Tháng 8/2011, chương trình Tìm trong kho báu của Đài Tiếng nói Việt Nam có tổ chức cuộc thi tìm hiểu những cứ liệu văn học có sử dụng điển tích Lã Vọng. Chúng tôi đã có kết quả cuộc thi này và sau đây, xin giới thiệu lại cùng các bạn một vài thông tin liên quan đến Lã Vọng do bạn  Phan Văn Bình (phanbinhtbpt@gmail.com) và bạn Nguyễn Loan (email:naol284@gmail.com) cùng thính giả Nguyễn Văn Luyến (Hải Phòng) cung cấp và bài tổng thuật về các cứ liệu do những thính giả đoạt giải đề xuất.
  • Thân thế Lã Vọng và một số tên gọi khác:
Tề Thái Công, tên thật là Khương Thượng (姜尚), tự là Tử Nha (子牙), nên thường được gọi là Khương Tử Nha (姜仔呀), là khai quốc công thần nhà Chu thế kỷ 12 trước Công nguyên và là vua khai lập nước Tề tồn tại từ thời Tây Chu đến thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Khương Tử Nha được biết đến như một vị tướng tài vĩ đại và là người góp phần lập lên sự nghiệp nhà Chu kéo dài hơn 800 năm, là triều đại kéo dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Khương Thượng là người ở Đông Hải. Tổ tiên ông từng làm chức Tứ nhạc giúp vua Hạ Vũ trị thủy có công. Sử ký xác định tổ tiên ông được phong ở đất Lã vào khoảng thời vua Thuấn đến thời nhà Hạ, do đó lấy Lã làm họ. Ông còn được dân gian và các nhà nghiên cứu lịch sử gọi bằng nhiều tên khác như: Khương Thái Công; Thái Công Vọng, Lã Vọng.
  • Sử ký còn dẫn thêm vài thuyết nữa về Khương Thượng:
Ông từng đi làm quan cho vua Trụ nhà Thương nhưng thấy vua Trụ vô đạo nên bỏ nhà Thương, đi du thuyết các chư hầu nhưng cũng không thành công. Cuối cùng ông sang nước Chu với Tây Bá.
Cơ Xương bị vua Trụ giam ở Dữu Lý. Bầy tôi của Cơ Xương là Tán Nghi Sinh và Hoành Yêu biết Khương Thượng là nhân tài bèn mời ông về hợp tác. Khương Thượng nhận lời về giúp Chu. Ông cùng Tán Nghi Sinh và Hoành Yêu đồng mưu tìm gái đẹp và vật lạ dâng vua Trụ để chuộc Tây Bá ra ngoài. Từ đó ông được Tây Bá Cơ Xương tôn làm thầy.
Khương Thượng giúp Cơ Xương chấn chỉnh nội trị và xây dựng lực lượng nước Chu để mưu đánh đổ nhà Thương tàn bạo mất lòng dân. Ông giúp Tây Bá đánh các đất Sùng, Bí Tu, Khuyển, Di, mở rộng lãnh thổ nước Chu. Bờ cõi nước Chu rộng lớn, chiếm hai phần ba thiên hạ lúc đó.
  • Ý nghĩa điển tích:
“Lã Vọng câu cá” kể về Ông Khương Thượng thời nhà Chu ngồi câu cá trên một bến sông, nhưng cần câu không có móc. Thực ra mục đích của ông không phải là câu cá mà ngồi suy gẫm về thời cuộc. Chu Văn Vương đã thấy được tài năng trong con người ngồi câu cá này và đã vời ông về làm quan, sau này ông đã làm nên sự nghiệp cho nhà Chu. Tích này muốn nói muốn nói: muốn làm nên sự nghiệp phải biết dùng người và cũng phải biết chờ thời.
  • Tổng thuật về các cứ liệu văn học liên quan:
1. Bài Kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ có đoạn:
“Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất
Hưu hưu nhiên điếu vị canh Sằn
Xe bồ luân dù chưa gặp Thang Văn
Phù thế giáo một vài câu thanh nghị”.
Những câu này cho thấy quan niệm của Nguyễn Công Trứ về kẻ sĩ là:
“Lúc chưa gặp thời thì cứ thanh thản sống nơi lều cỏ
Vui vẻ với thú câu cá trên sông Vị như Lã Vọng và cày ruộng như Y Doãn trên đất Sằn
Tuy chưa gặp được các bậc minh quan như vua Thang, vua Văn
Nhưng vẫn giữ vẹn đạo lý bằng việc nói những lời ngay thẳng”.
2. Bài Thuật hoài của Đặng Dung (một danh tướng nhà Trần) có đoạn:
“Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”.
Những câu này ý nói:
“Việc đời dằng dặc mà ta đã già, biết làm thế nào
Trời đất mênh mông đắm trong cuộc rượu hát ca
Khi gặp thời, người làm nghề hàng thịt, kẻ câu cá cũng dễ thành công,
Lúc lỡ vận, bậc anh hùng đành phải nuốt hận nhiều”.
Cái ý “khi gặp thời, người làm nghề bán thịt, kẻ câu cá cũng dễ thành công” chính là nhắc tới Phàn Khoái, một dũng tướng của Hán Cao Tổ vốn xuất thân là một người bán thịt lợn và Lã Vọng, hơn 80 tuổi vẫn ngồi bên sông Vị, câu bằng lưỡi câu thẳng, cốt để chờ thời, gặp được minh chủ để thi thố tài kinh bang tế thế. Thực ra, còn có tích khác nói rằng, Hàn Tín, cũng là một đại tướng của Hán Cao Tổ, thuở hàn vi đã từng câu cá kiếm ăn, nhưng lâu nay, đa số chúng ta vẫn ngầm hiểu về ý “câu cá chờ thời” là để nói tới Lã Vọng, người câu cá cốt để chờ gặp minh chủ chứ không có mục đích mưu sinh.
3. Trong tác phẩm Na Sơn tiều đối lục (Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na) trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có đoạn:
"“Sau khi nghe Trương Công ngỏ lời tuyên triệu...Tiều phu cười mà rằng:
-Ta là kẻ dật dân trốn đời, ông lão già lánh bụi, gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm  sinh nhai trong búa gió rìu trăng; ngày có lối vào làng say, cửa vắng vết chân khách tục, bạn cùng ta là hươu nai tôm cá, quẩn bên ta là tuyết gió trăng hoa; chỉ biết đông kép mà hè đơn [9], nằm mây mà ngủ khói; múc khe mà uống, bới núi mà ăn; chứ có biết gì đâu ở ngoài là triều đại nào, vua quan nào?

Bèn mời Trương ở lại làm tiệc thết, cơm thổi bằng hạt điêu hồ, canh nấu bằng rau cẩm đái, lại còn có mấy món rau suối khác nữa. Canh khuya chuyện trò, đều là những nghĩa lý đáng nghe cả, nhưng không một câu nào đả động đến việc đương thời. Hôm sau, Trương lại mời:

- Những bậc quân tử đời xưa, không phải là không muốn giúp đời hành đạo; khi ẩn kín một chỗ, chỉ là còn đợi giá mà thôi. Cho nên tất có bức tiếu tượng đi tìm, rồi sau đồng Thương mới thấm nước, tất có cỗ hậu xa đi chở, rồi sau nội Mục mới thành công]. Nay phu tử lấy tấm thân vàng ngọc, ôm một bọc kinh luân, ngoài vòng vinh lợi, vùi lấp tiếng  tăm trong đám người đánh cá hái củi, giấu tài giúp vua cứu dân, náu mình chốn rừng suối, vang tiếng đến cửu trùng; đốt nón lá, xé áo tơi, nay chính là đến lúc rồi đó. Dám xin bỏ bờ đập Phó Nham, ném cần câu sông Vị, đừng để uổng hoài khát vọng của bao kẻ thương sinh”.
4. Tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu:
Cùng với bài dự thi của bạn Nguyễn Loan, bài của thính giả Nguyễn Văn Luyến, xã Trung Hà, Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cũng đã cung cấp những thông tin hữu ích liên quan tới điển tích Lã Vọng. Trong bài này, thính giả Nguyễn Văn Luyến trích dẫn hai lần cụ Nguyễn Đình Chiểu có vận dụng điển tích Lã Vọng trong tác phẩm Lục Vân Tiên. Đó là câu:
“Thái Công xưa một cần câu
Hôm mai sông Vị mặc dầu đua vui”;
và câu:
“Cam La sớm gặp cũng xinh
Muộn như Khương Tử cũng vinh một đời”.
Cặp lục bát thứ nhất, có lẽ đa số chúng ta đều hiểu rồi. Tuy nhiên, ở cặp lục bát thứ hai, những tưởng chúng tôi cũng nên nói thêm một chút để bạn đọc có thể hiểu rõ hơn. Cam La là tên của một người nước Tần thời Chiến Quốc. Người này sớm có tài thao lược, mười hai tuổi đã được cử đi sứ sang nước Triệu, vua Triệu phải thân chinh ra đón tận ngoài thành và sau đó nhượng lại đất cho Tần. Nhờ những công trạng đó mà sau này, khi trở về nước, Cam La được vua Tần phong cho chức Thượng Khanh. Như vậy, trong câu thơ “Cam La sớm gặp cũng xinh – Muộn như Khương Tử cũng vinh một đời”, cụ đồ Chiểu muốn nói rằng, công danh nếu đạt sớm được như Cam La khi mười hai tuổi tất nhiên càng quý, nhưng nếu có đến muộn như Lã Vọng, tức Khương Tử Nha, lúc hơn 80 tuổi thì cũng rất đáng tôn vinh.
5. Sông Vị Thủy không tin lời bói
   Bến Đào Nguyên mong được trùng lai
(Tryện nữ thần ở Vân Cát, Đoàn Thị Điểm, Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X-XIX, tập 3, NXBGD 2009)
6. Rủ dây dù ông Lã máy cần
   Trần trụi mặc Chử Đổng ngâm nước
(Ngã ba Hạc phú – Nguyễn Bá Lân, như trên)
7. Muốn trên cho sánh đức Nghiêu, Thuấn
  Muốn dưới thảy nên tài Y, Lữ
(Sãi vãi – Nguyễn Cư Trinh, như trên)
8.Hội nào bằng hội Mạnh Tân như vương sư họ Lã
 Trận nào băng trận Duy Thủy như quốc sĩ họ Hàn
 (Bạch Đằng giang phú – Trương Hán Siêu, Sách giáo khoa ngữ văn 12. Tập 2, NXBGD, 2006)
Hai câu này ý nhắc tới Lã Vọng, tức vương sư họ Lã đã có công giúp Chu Vũ Vương hội quân chư hầu ở bến Mạnh Tân, và nhắc tới Hàn Tín, tức quốc sĩ họ Hàn, một vị tướng tài của Hán cao tổ Lưu Bang đã giúp minh chủ đánh tan quân Tề ở Duy Thủy.
9. Khát nước song trông dòng đục không vờ
   Phao Vị Thủy lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi dai ho khụ khụ.
(Tài Tử đa cùng phú – Cao Bá Quát, Thơ văn Cao Bá Quát, NXB Văn học, 1997)
Đây là hình ảnh mà nhà nho Cao Bá Quát tự vẽ mình theo cách vừa trào lộng, vừa đề cao khí tiết của người tài tử gặp lắm nỗi cùng cực trong đời.
10. Bõ khi xưa ở ẩn câu cá
    Mà nay dùng ở chỗ cột to
(Bàn luận tam nguyên – Dân tộc Tày, Tổng tập văn học Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 1996)
11. Luận tài năng, suốt Tây Kinh Đông Hán chưa ai
    So huân nghiệp dẫu, Châu, Thiệu Thái Công khá ví.
(Hàn vương tôn phú – Đặng Trần Thường, Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, NXB Hội nhà văn, 1998)
Cũng phải nói thêm về bài phú này để bạn nghe đài biết rõ hơn về bối cảnh hai câu thơ vừa trích dẫn. Theo GS. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học thi tuyển, Đặng Trần Thường vốn là người Hà Đông, thuộc Hà Tây cũ, từng đỗ sinh đồ thời Lê, sau khi nhà Lê mất, Đặng Trần Thường không làm quan cho triều Tây Sơn mà lại vào đầu quân cho Nguyễn Ánh và được làm tới chức Binh bộ Thượng thư. Tuy nhiên, sau ông mắc lỗi, bị bắt giam. Thời gian trong ngục ông đã làm bài phú này. Đây là bài phú kể về cuộc đời của Hàn Tín, một tướng tài giúp Lưu Bang lấy được thiên hạ. Nhưng về sau, vì nghi ngờ lòng trung của Hàn Tín, Lưu Bang đã giết chết vị danh tướng này. Khi làm bài phú Hàn vương tôn phú, bài phú tôn vinh vị vua họ Hàn, chúng ta ngầm hiểu, Đặng Trần Thường cũng ví mình như Hàn Tín vậy. Hai câu “Luận tài năng, suốt Tây Kinh Đông Hán chưa ai – So huân nghiệp, dẫu Châu, Thiệu, Thái Công khá ví” nhằm ca ngợi Hàn Tín, xét về tài nằng, khắp cả Đông Hán và Tây Hán đều không có ai sánh kịp, còn xét về công trạng thì các tướng giỏi của nhà Chu là Châu công, Thiệu Công và Thái Công (tức Lã Vọng) cũng đều không sáng được.
12. Kìa kìa Lữ Vọng câu Bàn Thạch
    Nọ nọ Nghiêm Quang náu Phú Xuân
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập – Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tập 1 Bạch Vân quốc ngữ thi tập, NXBGD 1989)
13. Ngoài việc trích dẫn hai cứ liệu thơ này, thính giả Nguyễn Văn Luyến cũng đưa thêm hai thông tin khác rất đáng quan tâm, đó là khi vua Trần Thánh Tông soạn bài văn bia ở sinh từ (tức đền thờ ngay khi còn sống) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vua đã ví ông như Thượng phụ, tức Lã Vọng, một khai quốc công thần thời nhà Chu. Cũng như thế thì Thái sư Trần Thủ Độ cũng đã được Trần Thái Tông truy tặng là Thượng phụ Trung Vũ Đại Vương vì đã có công sánh ngang với Lã Vọng trong việc phò giúp nhà Chu.
BBT Chương trình Tìm trong kho báu.

Jo

free counters