Saturday, October 31, 2015

Thiền đã giúp tôi trở về với chính mình

ST

đăng 18:04 09-10-2015 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 08:50 13-10-2015 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

                                                                                                                                                                   Ng.Hoàng Anh

     “Người chết không thể giúp gì người sống mà người sống mới phải giúp người chết”. Nói như thế bạn cho rằng đó là điều hiển nhiên quá, chẳng có gì phải bàn, chết rồi thì làm được gì. Nhưng có bao người hay chính bạn đã có lúc quỳ gối dập đầu trước bàn thờ người chết hay gốc cây, khe suối – nơi mà người ta đã đặt sẵn một bát hương, khói hương nghi ngút, tay vái, miệng lẩm bẩm cầu xin: sức khỏe, bình an, tiền tài, danh vọng…hay thậm chí cầu cho những kẻ gét mình, mình cầu những điều không may sẽ đến với họ. Vậy rõ ràng người sống đang “nhờ” người chết giúp đó thôi.

     Tôi vốn sinh ra ở một vùng quê nghèo nhưng may mắn được bố mẹ cho ăn học nên cũng tốt nghiệp đại học và có một công việc ổn định ở Hà Nội.

     Năm 2009 tôi 29 tuổi – Mẹ nhắc tôi thế. Nhớ cái tết năm ấy mẹ kéo tay tôi nói như một sắc lệnh: “Năm nay con gái phải lấy chồng đấy! Bố mẹ già thì bố mẹ chết chứ không thể lo cho con mãi được” Và mẹ tôi khóc… Tôi thấu hiểu hơn nỗi buồn trong mắt mẹ, càng xót xa cho số phận của mình sao chẳng giống ai; đã có lúc tôi chạnh lòng rằng ông Trời thật bất công với mình! Tại sao chứ? Tôi kém cỏi quá ư? Không! Tôi xấu xí quá ư? Không! Tôi đáng gét quá ư? Không!... Vậy tại sao bao kẻ “trồng cây si” đã bỏ đi hết khi tôi có ý định kết đôi, đến cậu bạn học cùng khóa chơi với tôi từ thuở thiếu thời khi ngỏ lời, tôi cũng đùng đùng nổi giận; tôi khó chịu mỗi khi hắn đến nhà “trồng si”, mặc dầu từ thời cấp 3 đến khi ra trường tôi và hắn chơi vui vẻ lắm cơ mà. Tôi đã có lúc tự nghĩ lại thì thấy mình sai, tức giận vô cớ, vô duyên nhưng biết làm sao, tôi không thể thay đổi được.

     Cuộc sống cứ lặng lẽ trôi đi, tôi 30 rồi 31, 32…và đôi lúc có ai đó hỏi tôi bao nhiêu tuổi, tôi dường như không muốn nhớ đến tuổi mình nữa nhưng cái ngày mà tôi luôn nhớ và tự hào, sẵn sàng trả lời với mọi người rằng: tôi sinh ngày 09-09-1981, đó là ngày tôi cất tiếng khóc chào đời. Mẹ kể rằng: hôm ấy, cả nhà đang chuẩn bị bữa cơm trưa thì mẹ hơi đau bụng, Ngoại giục mọi người ăn cơm nhanh để đưa mẹ đi trạm xá vì Bố tôi đi làm xa. Nhưng có lẽ cái tâm thức trong tôi đã mong đợi nhiều lắm, tôi đòi ra luôn khiến cả nhà không kịp trở tay. Dì tôi bất đắc dĩ trở thành bà đỡ.

     Than ôi! Đúng vào dịp mùa lúa mới, cả làng đi gặt từ tờ mờ sáng, buổi trưa họ về cơm nước tranh thủ nghỉ ngơi, Ngoại tôi chạy cuống cuồng đến nhà bà đỡ thì bà ấy từ chối vì bận việc. Ngoại khóc. Ngoại sợ không kịp tìm người bởi cái làng tôi ngày ấy nhà nọ cách nhà kia vài kilomet, họ hẹn nhau giờ giấc tính bằng mặt trời đổ bóng nắng. Thật may mắn, ông ngoại tôi có cái đồng hồ nhưng mỗi lần chạy lại phải lên dây cót, chuông đổ 12h thì cũng là lúc bà hàng xóm gỡ cho tôi cái tràng hoa quấn cổ ba vòng. Và mẹ cũng được lấy rau xong. Tôi tròn vo đôi mắt liếc nhìn mọi người và ánh sáng. Cả làng kéo đến nhà ngoại chơi vì mẹ bảo bé đáng yêu lắm! da trắng, môi đỏ, tóc đen, má lúm đồng tiền một bên. Có cụ bảo với mẹ tôi: “con gái cô xinh thế này sau đắt chồng lắm đây!”

      Nhưng tôi không may mắn như lời bà cụ nói. Mối tình đầu thời sinh viên 3 năm rồi anh rời xa, tôi đơn phương yêu anh và hy vọng một ngày anh sẽ quay trở về vì tôi biết chỉ có mình yêu anh nhiều hơn bao giờ hết, 4 năm chờ đợi – sự thật phũ phàng đã không còn cho tôi chút hy vọng, tôi đã mất anh thật! Tôi khóc nhiều lắm, lý trí đã bao lần dỗ dành con tim mong quên đi tất cả và rồi 3 năm sau tôi cũng cắt lìa được hình ảnh anh trong con tim mù quáng của mình. Vậy mà đã 15 năm trôi qua kể từ ngày mối tình đầu của tôi và anh. Thời gian như cơn gió thoảng qua mà cuộc đời thì bao thăng trầm, khổ đau từng trải. Và cuộc đời tôi vẫn vậy nếu không có một ngày…

     Ngày 01-06-2015, Bạn Hợi rủ tôi đến nhà Thầy. Tôi nhập môn Thiền như một cơ duyên, tôi vui và cảm thấy yêu thích…

     Ngày 04-06-2015 bỗng trong tôi xuất hiện một ông già tự xưng là người dân tộc, 90 tuổi đã vào người tôi ngay từ khi lọt lòng Mẹ. Ông nói: vì ông đi tuần buổi trưa thấy mẹ tôi sinh con vất vả quá nên vào giúp gỡ cái tràng hoa quấn cổ cho tôi và lấy rau cho mẹ nhưng thấy cô bé xinh và đáng yêu nên ở lại luôn.

     Tôi bàng hoàng nghe trong tai mình, mồm nói mà không thể điều khiển được chính mình. Ông già 90 tuổi cứ tha hồ mà nói sau 35 năm im lặng trong tôi. Ông nói: chính kiếp trước cô bạn tên là Trang cùng công ty của tôi là vợ ông ấy. Và điều đó lý giải tại sao khi tôi mới chuyển vào Công ty của bạn Trang - bạn ấy rất hay nói chuyện cởi mở và rủ tôi đến nhà Thầy. Nhớ buổi đầu tiên hôm đó là thứ 2 tôi đi chuyến xe Thái Nguyên – Hà Nội từ 5h30 xuống thẳng công ty, hết giờ nhưng tôi vẫn ngồi tiếp tục làm bù cho mấy ngày nghỉ về quê vừa rồi. Bạn Trang qua phòng, tắt bụp cái máy tính trên bàn tôi, nằng nặc lôi tôi đi đến nhà Thầy để tập luyện, tôi miễn cưỡng lý do: không có xe, không có mũ bảo hiểm, nhưng bạn giật tay tôi chắc nịch: Đi! Em chở chị đi, không sợ công an đâu. Tôi lý nhí: chị đã đăng ký đi học đâu? Mà chị đang bận làm báo cáo tháng để trình Sếp? Thôi, để hôm nào đăng ký thì học.
     Tôi giả bộ hứa hẹn thế chứ tôi chắc mẩm rằng  sẽ không đi đâu, tôi đã học xong Thạc sỹ rồi. Vì việc học này mà phiền lòng bố mẹ tôi, họ đã kịch liệt phản đối vì sợ tôi càng ế. Năm 2013 tôi nhận xong tấm bằng và tự nhủ “rửa tay gác kiếm việc học hành” mà giờ nghe nói đi học tôi cũng ngại, “có tuổi” rồi nên lười và tiếp thu kém lắm. Nhưng sự quả quyết và nhiệt tình của  bạn tôi – em Trang khiến tôi miễn cưỡng theo sau. Tôi ngồi trên xe em mà tim đập thình thình khi mỗi lần qua ngã ba ngã tư thoáng thấy bóng chú “áo vàng” rồi tự hỏi mình: Thiền là gì nhỉ? Sao Thầy lại dậy vào cái buổi 7h đến 9h30 tối ở nhà nhỉ?...
      Khi đến nhà Thấy, tôi từ từ bước vào lớp mà nghe lòng mình nhẹ nhàng hơn như chính mình đang đến một nơi linh thiêng nào đó, lớp khá đông người nhưng chỉ có tiếng nhạc và lời của Thầy – ngọt ngào mà du dương khiến cho lòng người thanh thản mà đã lâu lắm rồi tôi không còn tìm được cảm giác đó. Những ngày tiếp theo tôi chủ động tắt máy tính sang phòng em Trang giục đi sớm kẻo tắc đường nhưng thực ra tôi thích đến nhà Thầy.
       Buổi tối hôm ấy “ông già” trong tôi cứ đòi ở lại nhà Thầy, Thầy phải “nhờ” bạn Trang là “vợ của ông già” cùng anh  trợ giảng của Thầy đón taxi đưa tôi về nhà. Tôi xưng “anh” với Trang và gọi tên mẹ, anh, chị em và xưng “tôi” với tất cả mọi người. Trang đưa tôi về mà bạn ấy quá khiếp, sau này khi tôi trở về chính mình thì bạn ấy nói với tôi rằng “em chỉ sợ chị bị dở hơi thì em ân hận lắm vì đã đưa chị đi tập, em lo thật” .Tôi bước vào phòng thì bị khự lại như có luồng điện giật và kêu rú lên tay che mặt vì tôi va phải cái gương soi sáng quắc. Tôi co rúm người, choáng váng! Tôi lên giường nằm, miệng lẩm nhầm nói gì mà tôi không thể nhớ.  
     Cả nhà tôi hôm đó nhận được tin đều mất ngủ, hoảng sợ. Mẹ tôi  thì vội vã sáng sớm hôm sau bắt xe xuống Hà Nội, cả nhà nghĩ tôi bị “ma làm”, mẹ định đưa tôi về quê để đến nhà Thầy Cúng. Nghe đến đây tôi lăn đùng ra khóc tơi tả cầu xin Mẹ đừng mang tôi đi, tôi chỉ một mực đòi đến nhà Thầy.

     Sáng ngày 05-06-2015 Mẹ đưa tôi đến nhà Thầy thì bỗng nhiên trong tôi lại có một em bé là bào thai 3 tháng tuổi, xưng là con gái của mẹ tôi, khóc lóc đòi mẹ yêu thương. Mẹ tôi cũng nhận ra đó là đứa con đầu lòng bị tuột mất lúc 3 tháng tuổi. Với “ông già” kia tôi có lẽ chẳng tin vào chính mình nhưng “cô bé” con gái của Mẹ tôi thì chính mẹ tôi không phủ nhận. Câu chuyện như lật lại quá khứ 35 năm về trước mà tôi “sống” với họ nhưng tôi không hề hay biết!

     Rồi một lúc sau trong tôi vang lên một giọng đọc thơ:


“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”


     Lại là một người lạ khác trong tôi, đọc bài thơ thần mà danh tướng Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) đã từng đọc trên sông Như Nguyệt (Nay là sông Cầu, thuộc Bắc Ninh-Bắc Giang), người đó tự xưng là ông Hoàng Thái Tử nước Nam Hán. Ông nói đã ở đất nhà Ngoại tôi từ bao đời rồi và cũng nhập vào tôi ngay từ khi tôi sinh ra, nghe có vẻ hoang đường, lạ lùng quá chăng?

     Mảnh đất mà gia đình tôi đang ở là của Ngoại để lại, Ngoại có 4 người con gái trong đó có Mẹ và Dì tôi nhận thừa kế. Ngoại tôi đã có lần mời Thầy về cúng tạ đất, người ta nói đất này dữ lắm, của người Tàu ở từ rất lâu đời rồi. Ngoại tôi sau khi mua mảnh đất này thì đau ốm liên miên, Ngoại lập miếu thờ đến khi Ngoại mất thì Dì tôi chuyển miếu sang thờ bên nhà mẹ chồng. Dì cũng hay đau đầu và làm ăn rất vất vả nên chú dì đã quyết định vào Đắc Lắc sống từ năm 1997 nên hiện tại chỉ còn bố mẹ tôi ở đó.

Kỷ vật “sống” duy nhất còn lại là cây “Táo già” trước cửa nhà tôi, theo như lời các cụ kể lại thì đến nay nó cỡ 105 tuổi. Thân nó bằng một vòng tay ôm của tôi, vỏ nó sần sùi rất dầy. Nó vẫn đơm bông kết trái vào mỗi độ xuân về, và gắn liền với tuổi thơ bao thế hệ làng tôi, chị em tôi thường hay vắt vẻo chèo hái mỗi buổi trưa hè. Còn nhớ lũ trẻ con – học trò của mẹ tôi vào mỗi dịp 20/11 lại ùa đến nhà tôi chèo cây hái táo. Quả chín vàng rộm thì hơi chua, quả xanh hơi chát nhưng chấm muối thì vị chua chát kiêm chút mặn lại bồn bột, ngon ngon. Cái vị này cho đến bây giờ cứ mỗi dịp tết về nhà, tôi lại nhâm nhi tận hưởng – vị của đất quê hương tôi…

Chiều ngày 05-06-2015, tôi một mình trong căn phòng nhỏ. Tôi thiền. Cánh tay tôi nặng trĩu, hai bờ môi mím chặt vào nhau như có ai đó dùng keo dính vào miệng, tôi cố hết sức mà không thể nói được. Tôi thấy Chị. Chị quê Nam Định. Người ta đã gắn xi vào miệng và chôn sống chị khi tuổi 18 trinh nguyên làm thần giữ của trên đất nhà tôi. Tối, tôi viết ra giấy đòi mẹ đưa đến nhà Thầy. Lớp học thật đông, im phăng phắc. Tôi lặng lẽ ngồi theo tiếng nhạc thiền xen lẫn tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim hót líu lo rôn ràng, tiếng sáo du dương và hương thơm của lá rừng. Thầy vẫn miệt mài bài giảng về Đức thầy tổ Đasira Narada (1846 – 1924), người đầu tiên tìm ra phương pháp thu năng lượng vũ trụ trường sinh học bằng cách tu tập và mở các luân xa. Bài giảng về mạch Nhâm, mạch Đốc, vị trí, chức năng hoạt động các luân xa, tất cả như một phép màu đối với tôi. Bài học thực hành thiền mà từ xưa kiến thức sách vở trong cuộc đời tôi chưa bao giờ được nghe – giống như những điều bí ẩn nhưng thật sự gần gũi và dễ hiểu. Chính chúng ta đang sống trong vũ trụ bao la ngập tràn năng lượng mà ta không hề biết cách thu nhận để nâng cao sức khỏe, đẩy lùi bệnh tật. Tôi thấy mình thật là may mắn vì đã gặp được “Duyên lành”.

      Xong lớp, tôi chào Thầy ra về mà lòng nhẹ nhàng lắm nhưng băn khoăn cánh tay trái vẫn còn bị tắc, chưa hết nặng. Thầy căn dặn: “Cứ về đi, mọi việc sẽ được thay đổi”.

     Đêm hôm ấy tôi mơ màng, văng vẳng đâu đó tiếng đàn piano và thoang thoảng hương thơm của lá rừng. Tôi lại dính chặt miệng như buổi chiều hôm trước và cái cảm giác thèm ngủ cứ ôm lấy tôi, tôi tỉnh rồi lại mơ, trong lúc nửa tỉnh nửa mơ tôi thấy ai đó đang căn dặn tôi vài điều. Và Chị nói với tôi rằng Chị quê ở Thái Bình, chị cũng cùng chung số phận với Chị ở Nam Định đang bị giam cầm làm thần giữ của trên đất nhà tôi từ lúc còn là thiếu nữ. Một luồng khí mạnh từ miệng tôi phì phì chui bật ra, tôi thở rất gấp, tôi rờ tay vào môi mình thấy dinh dính và lau những gì còn sót lại. Tôi bật tỉnh dậy: Thầy ơi!... Sao kỳ diệu thế này?

     Ngày 09-06-2015 tôi đến Công ty đi làm buổi đầu tiên sau chuỗi ngày nghỉ vị bệnh tật, tôi như vừa trải qua một giấc mơ, một câu chuyện tưởng như hoang đường mà nếu không gặp Thầy thì suốt cả cuộc đời tôi không thể khám phá. Tôi đã trở lại với chính mình, cái cảm xúc thanh thản đến nhẹ nhàng, trong lòng tôi tràn dâng ngân nga một sự tĩnh lặng, tôi cảm nhận thấy cuộc sống tươi đẹp hơn, đáng yêu và tràn đầy ý nghĩa hơn. Tôi bắt đầu một cuộc sống mới từ ngày hôm đó vì đã được trở về là chính mình!

     Thầy là Điều kỳ Diệu đối với cuộc đời tôi!

Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2015

Tại sao phải “Cải táng?”

ST

đăng 18:45 15-01-2012 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 06:23 22-11-2013 ]
Nguyễn Xuân Điều

Có những việc mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn rất ngỡ ngàng. Đó là việc mà người chết chôn xuống sau ba năm lại  đào lên, chuyển xương vào tiếu sành và chôn xuống lần hai. Việc này duy nhất chỉ có ở một vài nơi trên miền Bắc nước ta.

Cách đây đã khá lâu, tình cờ tôi gặp được ông thầy địa lý tên là Nguyễn Trực, người đất  Hiệp Hòa, Bắc Giang. Thầy sinh năm 1910 (Canh Tuất ), đi ăn cơm thiên hạ từ lúc 13 tuổi. Lúc tôi gặp thì thầy đã ngoài 70 tuổi, có bộ râu bạc khá dài, lưng hơi còng nhưng bước đi còn rất vững chãi.Thầy có đôi mắt tinh nhanh như loài chim, nhất là lúc đi “Tầm long điểm huyệt”. Thầy không uống rượu, không nghiện thứ gì. Vợ thầy nhiều hơn vài tuổi, mắt kém, lưng còng hơn thầy. Thầy không có con nên đã nhận một người con nuôi.  Lần đầu khi chúng tôi  gặp vợ chồng người con nuôi thì anh đã có 2 con nhỏ rồi.
Tôi còn nhớ con đường vào nhà thầy đi qua một cánh đồng mênh mông, ngạt ngào hương lúa nồng.  Xa xa có vài ngọn núi chạy ngang mờ trong mây in trên nền trời xanh.
Nhà thầy rất đơn sơ, tường xây cay đất, mái lợp ngói tây. Trong nhà đồ đạc sơ sài, một chiếc giường cũ, một cái chõng tre dùng để tiếp khách với bộ chén vại và chiếc xuyến bằng sứ  Bát Tràng cũ kỹ. Không bàn thờ. Tất cả trông rất đạm bạc. Ngoài sân có rất nhiều cây, một hàng cau, dàn trầu, một cây mít giống hiếm, những cây chanh lá dày thơm đặc biệt…Ngay ngoài cổng vào là một  cây dã hương to, thân thẳng tắp, có lẽ nó cao nhất làng.
Nhóm theo học thầy có tôi, anh La Hậu, Phạm Thành, Đỗ San, Chu Thảo. Mỗi người được thầy dạy theo một cách khác nhau, tùy thuộc vào khả năng nhận thức. Anh La Hậu đươc thầy gọi là  người có cái “tràng” như ruột con trâu. Anh Đỗ San có “Can” như  đá cuội. Còn tôi thì thầy bảo  “Khẩu” giống như “gà trống” gáy sáng…
Thời gian để tiếp xúc trực tiếp với thầy rất ít bởi công việc của thầy rất bận. Sách vở về lĩnh vực này  trong giai đoạn đó rất khan hiếm, nên việc truyền đạt kiến thức cơ bản của thầy cho chúng tôi theo phương châm “mưa dầm thấm lâu”. Tôi được thầy ưu ái một chút bởi vì biết vâng lời, nhanh hiểu và cũng biết bập bẹ chữ Tàu. Tôi còn nhớ như in những bài cơ bản đầu tiên, ví dụ cách tính hàng Can của tháng, của giờ:
                 Giáp Kỷ chi niên Bính tác sơ
                 Ất Canh … Mậu vi đầu
                 Bính Tân …tòng Canh khởi
                 Đinh Nhâm …Nhâm thuận hành
                 Mậu Quý hà phương …Giáp
Và để biết tổng quát về một người, thầy dạy cho cách tính theo   “Can, đởm, tràng, mao, khẩu, trủy, trảo, nha, giác, túc”.  Thầy hướng dẫn cả cách đọc  “Thông thư ngọc hạp” và  lịch “Vạn sự” ,  hiểu về “Tróc Long” và cách đặt địa bàn…
Tróc Long cổ

Thầy tinh thông về địa lý Dương cơ (Nhà ở) và Âm phần” (mồ mả). Sách của thầy viết toàn chữ Nho, có nhiều chữ cổ, xếp thành cột, đọc từ phải sang trái (chữ Việt Nam ta đọc từ trái sang phải). Ngoài sách ra, thầy còn một dụng cụ không thể thiếu trong khi làm việc đó là chiếc “Tróc Long”. Tróc Long là một vật hình tròn đường kính cỡ 20 phân, có rất nhiều vòng chữ in từ trong ra đến ngoài, ở giữa là một chiếc địa bàn cỡ bằng  đồng xu, kim óng ánh lung linh, nhỏ bằng sợi tóc, có 2 màu xanh đỏ luôn chỉ hướng Nam – Bắc. Sau này tôi cũng chế ra một chiếc “Tróc Long”, nhưng nó khác với “Tróc Long”cổ của thầy, vì nó rất Việt Nam (Trời tròn Đất vuông) và các vòng của nó xoay tròn được  (Biến hóa khôn lường).  Một lần tôi đưa chiếc “Tróc Long”  đó để thầy xem, thầy cầm nó ngắm một lúc rồi đưa lại cho tôi và nói: “Tao chẳng hiểu gì cả !” (Thầy thường xưng “tao” một cách thân mật với chúng tôi).

Tróc Long VN

Có những lần chúng tôi theo thầy đi cải táng. Thầy hướng dẫn cặn kẽ cách xếp cốt vào tiểu sành. Cách đặt “Tróc Long”, phân kim tìm hướng huyệt, đâu là tay long, tay hổ, đâu là Án và Minh đường… Một công việc rất tỉ mỉ và cẩn thận. Thầy dạy chúng tôi:  “Phân kim như chia ngọc”.
Để xác định hướng nhà (Dương cơ), thầy bảo chủ nhà đưa ra một cái mâm, đổ vài đấu gạo vào mâm, thầy nhẹ nhàng đặt “Tróc Long” trên mâm gạo đã được san phẳng. Sau đó căng chỉ hai đầu, chạy qua mặt địa bàn, xác định “Sơn và hướng”. Động tác rất trang nghiêm đầy bí ẩn …
Có lần tôi hỏi thầy: Tại sao chỉ có ở miền Bắc ta mới có phong tục “Cải táng” (hay còn gọi là sang cát), thầy im lặng rất lâu, rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, thầy kể:
 “Thời xưa, đàn ông đa thê (nhiều vợ), nhất là những nhà giàu có. Đã nhiều vợ lại ích kỷ, gia trưởng, hẹp hòi, thậm chí còn hay “ ghen bóng ghen gió”. Nhiều ông chồng lòng dạ không yên bởi nghĩ rằng trong những bà vợ của mình,  bà nào chung thủy, liệu rằng có bà nào trót quan hệ “mây mưa trăng gió” với người đàn ông nào khác ?...
Cũng từ cổ xưa người ta đã biết nếu người đàn bà nào có quan hệ tình ái (tình dục) với một người đàn ông thì sau khi chết chôn một vài năm, khi bới lên xem, ở đốt xương cụt sẽ có một chấm đen. Nếu quan hệ với 2 hoặc 3 người đàn ông khác thì sẽ có hai hoặc ba chấm đen… Và tục cải táng cũng bắt nguồn từ đó” (để giải đáp cho một bí mật).
Thầy cũng tiết lộ thật với tôi rằng “Việc làm này (tức cải táng) chẳng có tác dụng gì đâu con ạ.” Câu này thầy nói rất nhanh làm tôi ngạc nhiên!
Tôi thầm nghĩ trong lòng “chẳng có tác dụng gì” nhưng sao thầy vẫn làm việc này trong bao nhiêu năm rồi, từ lúc thầy 13 tuổi đã bước vào nghề (?).
Cũng từ ngày ấy, tôi mới hiểu tại sao vua chúa không bao giờ cải táng. Có nhiều nước, nhiều dân tộc người chết được an táng  bằng cách đào sâu chôn chặt, thế mà nước họ, dân tộc và xã hội của họ vẫn văn minh,  phát  triển. Hoặc trên thế giới cũng có những phong tục dành cho người chết như: Điểu táng (xác người được xẻ ra để chim kền kền ăn), Hỏa táng (xác người được thiêu, sau đó tro được  đem rắc xuống sông xuống biển), Thực táng (xác người chết được đặt giữa nhà, người sống nhảy múa xung quanh,từng  người trong gia đình cắt xẻo thịt người chết để ăn …cho đến hết !), ...
Thời cổ Ai Cập, khi các Pharaon dùng thuật ướp xác trong các kim tự tháp thì cũng từ đó nền văn minh Ai Cập bị sụp đổ.
Đã có rất nhiều người nhờ thầy sang cát đặt mồ mả. Nhưng tôi chứng kiến nhiều người cũng chẳng vì thế mà phát lên được. Thậm chí có người thì càng nghèo đi, có người rơi vào cảnh tù tội, có người phá sản… Có những nhà  khi cải táng cho người thân, sau đó trong gia đình họ hàng có người lâm nhiều bệnh, thần kinh bất an, tính tình thay đổi, có người bị ung thư rồi chết…
Cải táng cũng giống như làm đám ma lần thứ hai. Gia đình rất vất vả, tốn kém, nhất là những nhà nghèo....Đêm hôm âm u, giá rét, con cái cháu chắt kéo nhau ra bãi nghĩa trang hiu hắt, đứng quanh mả người chết đã được lật ván thiên, khóc lóc ri rả, đau thương… Chỉ khổ cho các con trẻ và các ông bà cao tuổi.
Đứng về góc độ khoa học  mà đánh giá thì công việc “cải táng” rất mất vệ sinh, cả một vùng bốc mùi hôi thối, gây ô nhiễm nặng môi trường. Bước vào nghĩa trang có “cải táng” chỉ thấy đất đai bị đào bới nham nhở lở loét làm mất đi vẻ đẹp trang nghiêm là nơi người chết an nghỉ. Có trường hợp mả này vừa bới lên “cải táng” mới được vài ngày thì ngay sau đó đã có đám khác chôn vào.Còn có cả trường hợp  xác đã chôn xuống 3 năm,  đến kỳ “cải táng” khi đào mả lên, thịt vẫn chưa tiêu hết, lúc ấy phải lấy dao róc thịt, trông thật khiếp sợ và đau lòng…”Cải táng” thật không khoa học và văn minh chút nào!
    Nhà nước ta không có luật “người chết phải cải táng”.
    Phật giáo “Từ bi – Trí Tuệ”  không có Pháp quy định người chết phải “Cải táng” ! ...
Sau này, tôi còn có dịp tiếp xúc với một vài thầy địa lý có tầm cỡ. Nhưng điều cơ bản mà tôi nhận biết được ở các thầy là khi làm về “Âm Phần”, các thầy thiểu hẳn một chân lý khoa học là: “Thân xác được sinh ra từ cát bụi lại trở về với cát bụi”.
     Và có một  năng lượng tồn tại vĩnh hằng thì các thầy địa lý lại không bao giờ có ân huệ được nhìn thấy!
Dù sao quy luật về vùng “Ánh Sáng” “Bóng Tối” vẫn luôn tồn tại cạnh nhau.  Chỉ có điều trí tuệ ta có nhận biết và phân biệt  được  ta đang “Sống” ở vùng nào?  Điều đó khẳng định rõ cội nguồn của một “Đẳng Cấp”,  một “Giống Nòi”!
                                                                                                                  Hà Nội, 13 tháng I năm 2012

Jo

free counters