Wednesday, November 22, 2017

Trị Cao Huyết Áp Bằng Nhập Thất Của Tiên Thiên Khí Công

https://vietbao.com/a135329/tri-cao-huyet-ap-bang-nhap-that-cua-tien-thien-khi-cong 

Giáo sư Phạm văn Chính (Nghe tin giáo sư đã mất do tai nạn giao thông năm 2016 - A Di Đà Phật)

Sau bài viết: "Bịnh cao huyết áp có cần uống thuốc đến chết không"", nhiều người gọi điện thoại hỏi về cách chữa trị bịnh cao huyết áp, không dùng đến thuốc. Bịnh cao huyết áp hiện có nhiều người mắc phải lại không rõ nguyên nhân và không biết cách chữa trị. Ai cũng nói cao huyết áp phải uống thuốc đến chết mà chết vào độ tuổi nào" Trong khi đó, Tiên Thiên Khí Công(TTKC) lại có cách chữa lành bịnh cao huyết áp rất nhanh lại không dùng đến thuốc. Mặc dù từ nhiều năm nay chúng tôi đã phổ biến rộng rãi phương cách trị liệu này trên sách, báo, nhưng hầu như vẫn còn giới hạn, ít người biết hoặc có người biết lại không tin, không chịu tìm hiểu và không chịu áp dụng, cứ buông xuôi cuộc đời cho căn bịnh. Để vấn đề được sáng tỏ, để giúp thêm được nhiều người vượt qua đau khổ vì bịnh cao huyết áp, chúng tôi xin đề cập về chứng bịnh thời đại này một lần nữa"
Trước khi nói về cách chữa trị, chúng ta cần hiểu bịnh cao huyết áp là gì" Nguyên nhân nào đã tạo ra bịnh này" Có biết rõ nguyên nhân gốc, chúng ta mới có thể chữa trị tận gốc được . Bịnh cao huyết áp là bịnh gây ra do tâm trương và tâm thu hoạt động không bình thường. Nếu dùng máy đo thì thấy số trên lớn hơn 135 và số dưới lớn hơn 85. Bịnh này thường gặp ở người trung niên, cao niên hay người dư cân, mập phì.
Bịnh rất nguy hiểm dù không có triệu chứng gì lại giết chết người binh bằng tai biến tim hay làm tàn phế vì tai biến não. Y học gọi bịnh này là "tên sát thủ âm thầm" và đang giết chết nhiều người hằng ngày trên thế giới.
Theo quan điểm của Tiên Thiên Khí Công, bịnh cao huyết áp do 2 nguyên nhân chính tạo ra: Một là nguyên nhân sinh lý và hai là nguyên nhân tâm lý. Sinh lý là do di truyền, do tuổi tác, do tác dụng phụ của thuốc, do suy yếu thận, hút thuốc lá mà đặc biệt là do thực phẩm ăn uống hằng ngày. Chính thực phẩm nhiễm hóa chất độc từ các loài vật nuôi và cả những loại thực phẩm khác làm cho cơ thể tăng trọng, mập phì kéo theo cao huyết áp. Vì vậy, có thể nói thủ phạm chính của bịnh cao huyết áp là thực phẩm ô nhiễm.  Gần 100% người mập phì bị bịnh cao huyết áp. Mà mập phì là do thực phẩm ô nhiễm. Đây là nguyên nhân gốc. Cần phải loại bỏ nguyên nhân này mới có thể đẩy lùi được bịnh cao huyết áp. Còn nguyên nhân tâm lý là do nóng giận, lo âu, buồn phiền, căng thẳng thần kinh hoặc bị ảnh hưởng bởi các bức sóng điện từ làm cho tim và hệ thần kinh suy yếu, gây ra cao huyết áp.
Muốn trị lành bịnh cao huyết áp thì phải cắt đứt cả 2 nguyên nhân gốc sinh ra bịnh. Nếu chỉ cắt một trong hai thì bịnh không thể lành được. Thuốc trị cao huyết áp hiện nay không có loại nào có đủ năng lực để cắt cả 2 nguyên nhân sinh bịnh nên không thể chữa lành được bịnh khó trị này. Trong khi đó, Tiên Thiên Khí Công, một phương pháp khí công kết hợp vừa Khí Công vừa Thiền, nên có thể cắt đứt hết hai nguyên nhân gây ra cao huyết áp.
Phần Khí Công, Nhập Thất và Ăn Uống Theo Nguyên Lý Am Dương cắt đứt nguyên nhân sinh lý. Còn phần Thiền cắt đứt nguyên nhân tinh thần hay tâm lý. Vì vậy mà nhiều người bị cao huyết áp đến với TTKC một thời gian ngắn, bịnh cao huyết áp trở lại ổn định bình thường.
Chẳng những cao huyết áp mà bịnh cao mỡ, tiểu đường là hai căn bịnh thường đi theo cao huyết áp cũng ổn định bình thường không cần đến thuốc. Nhờ đó, người bịnh không chết vì tai biến tim, không bán thân bất toại vì tai biến não. Chúng tôi có đầy đủ kinh nghiệm về các chứng bịnh thời đại này nên muốn phổ biến rộng rãi phương cách chữa trị để làm giảm nỗi khổ đau gây ra do nhóm bịnh này. Mong rằng bài viết này được báo giới, các phương tiện truyền thông đăng tải, phổ biến rộng rãi. Và nếu có ai phát tâm chuyển dịch sang các ngôn ngữ khác thì đó là một nguồn an lạc lớn lao cho người viết mà cũng là sự đóng góp công đức nhiều ý nghĩa.
Tiếp theo đây là khái quát về cách chữa trị bịnh cao huyết áp của TTKC:
1.Giảm cân: Muốn cắt đứt nguyên nhân sinh lý hay thân bịnh thì việc đầu tiên là phải giảm cân. Phải cắt bỏ trọng lượng dư thừa để cho máu huyết trở lại bình thường, tim và hệ thần kinh không bị áp lực thường xuyên với lượng máu thừa nhiễm mỡ và nhiễm độc. Muốn biết cân lượng dư bao nhiêu kg thì lấy chiều cao trừ 110. Số trừ là trọng lượng cân bằng giữa chiều cao và sức nặng. Ví dụ chiều cao 1m60 thì cân lượng phải là 1m60-110 = 50 kg. Người có chiều cao 1m60 chỉ được có cân lượng 50kg hay khoảng 110lbs. Vượt khỏi số này là dư. Càng dư càng nặng nề và bịnh tật từ đó mà phát sinh. Bịnh cao huyết áp cũng phát sinh từ đây. Vì vậy, muốn đẩy lùi bịnh cao huyết áp thì phải giảm cân cho đến mức cân bằng giữa chiều cao và cân lượng. Chỉ cần giảm cân là huyết áp sẽ ổn đinh,không tăng cao.
Muốn giảm cân thì phải áp dụng cả 3 phương cách của TTKC: Phải năng tập thở sâu và tập các động tác TTKC, kết hợp với Nhập Thất và thay đổi toàn diện cách ăn uống. Cả 3 phương cách này đều được chúng tôi chỉ dẫn cặn kẽ trong các sách đã phát hành và trong các DVD. Tập TTKC, thay đổi cách ăn uống không khó. Chỉ có Nhập Thất tức nhịn ăn một thời gian là khó nhứt. Nhưng đây là bước quan trọng quyết định cho việc giảm cân. Chỉ cần vài ba ngày chúng ta có thể giảm đến 10 lbs và trở thành một con người mới về mọi phương diện. Khẩu vị thay đổi, ăn thức gì cũng ngon, để chuyển sang cách ăn uống theo nguyên lý âm dương. Bước này cần được hướng dẫn và chăm sóc chuyên môn của người nhiều kinh nghiệm, tức là tham dự một  kỳ Nhập Thất từ 3 đến 7 ngày.
2. On định phần tinh thần:   Còn nguyên nhân tâm lý tạo ra cao huyết áp, chúng ta phải cắt đứt bằng bài tập thiền của TTKC.  Chúng ta phải tự nhắc nhở mình, không làm cho đầu óc quá căng thẳng, không để ảnh hưởng các bức sóng điện từ và áp dụng thường xuyên các bài tập Thư Giản Tinh Thần, An Định Tâm Linh và Khai Mở Trí Tuệ. Nhờ các bài tập này mà nguyên nhân tâm lý bị cắt đứt dần, huyết áp trở lại ổn định bình thường, tinh thần luôn an vui nên tuổi thọ sẽ dài, cuộc đời sẽ có ý nghĩa.
Và điều quan trọng là nhờ đó mà bình an khi ra đi. Ra đi trong bịnh tật khổ đau và ra đi với nụ cười trên môi hoàn toàn khác nhau. Không có tiền tài, danh vọng, quyền thế nào tạo cho ta sức khỏe, tuổi thọ, an lạc và tự tại lúc lâm chung. Chỉ có sự tĩnh thức, quay lại chính mình kịp thời. Và TTKC, Thiền trongTTKC là phương cách hữu hiệu giúp tự chữa bịnh, tạo sức khỏe tốt và khai mở trí tuệ để biết cách sống tĩnh thức. Những bài tập này chúng tôi cũng đã giảng giải, hướng dẫn cặn kẽ trong các sách và DVD. Vấn đề là chúng ta có chịu tìm hiểu để thực hành và thực hành thường xuyên hay không mà thôi. Và để thực hành đúng cũng cần có sự hướng dẫn trực tiếp của người có nhiều kinh nghiệm. Cách tốt nhứt là tham dự một Lớp Nhập Thất ngắn ngày.
Tóm lại, bịnh cao huyết áp không phải bất trị và không phải uống thuốc đến chết. Bịnh cao huyết áp có thể chữa lành nhanh chóng nếu chúng ta giảm cân đến mức cân bằng,giữ cân lượng không cho tăng trở lại và biết ổn định tinh thần để an lạc và khai mở trí tuệ để biết cách sống.
Cần tìm hiểu thêm về bịnh cao huyết áp, về TTKC hoặc mua tài liệu trên online, quý vị vào website của Hội: www.tienthienkhicong.org. Điện thoại liên lạc: GS.Phạm Văn Chính: (714) 891-5963, cell: (714) 902-3544 hay Nguyễn Định (714) 725-1522.

Monday, November 6, 2017

Chữa cảm


Diện Chẩn điều trị cảm nóng, cảm lạnh và cảm nước

Nguyên nhân cảm

Hoặc do tiếp xúc lâu với điều kiện bất lợi cao độ, hoặc tuy không lâu không cao độ nhưng vì cơ thể suy yếu mà bị cảm.
cảm nóng, cảm lạnh, cảm nước
Cơ thể suy yếu dễ bị cảm
Triệu chứng chính, chẩn đoán nhanh: mệt mỏi lừ đừ, sốt nhẹ hoặc sốt cao. Triệu chứng phụ (có thể có, có thể không): đau đầu,đau họng ,ho, hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi hoặc cả hai,mắt mờ mỏi muốn nhắm lại.
 Có 3 loại cảm
  1. Cảm nóng: do ở môi trường nóng lâu, đi nắng lâu. Khát nước, sợ nóng, ưa mát. Sờ trán và bàn chân thấy ấm như nhau.
  2. Cảm lạnh: do bị nhiễm lạnh, không khát nước, sợ lạnh, ưa ấm. Trán ấm, bàn chân lạnh.
  3. Cảm nước: do tiếp xúc với nước nhiều, không khát, hơi sợ lạnh,không sợ nóng. Sờ trán và bàn chân mát hoặc ấm như nhau.

Cách điều trị cảm nóng, cảm lạnh, cảm nước

  1. Cảm nóng: dùng một cục nước đá áp vào các huyệt Diện Chẩn theo thứ tự 26,173,3,87. Mỗi huyệt 2 phút, luân phiên nhau cho đến khi thấy người mát mẻ, hết các triệu chứng chính : mỏi mệt lừ đừ, sốt.
  2. Cảm lạnh: dùng máy sấy tóc sấy lòng bàn chân cho nóng lên (nóng như phỏng…như đạp trúng cục than đang cháy đỏ), nghỉ 5 giây, sấy lại cho nóng. Như vậy 3 lần liên tiếp. Mang vớ cho ấm bàn chân, giữ ấm toàn thân. Nếu toát mồ hôi thì lau khô và thay áo khác ngay. Nếu tr.ch. chính vẫn còn thì một giờ sau bạn lập lại các thao tác trên. Cứ thế cho đến khi hết hẳn triệu chứng chính.
  3. Cảm nước: làm như cảm lạnh 1 lần duy nhất, kết quả chỉ giãm chớ không hết hẳn các triệu chứng chính. Cần xông hơi mới mau hết bệnh. Khi xông bằng phòng xông thì trước khi ra khỏi phòng, phải quấn khăn toàn thân, ra khỏi phòng xông cứ giữ như vậy chờ cho mồ hôi không ra nữa và thấy không còn nóng nữa mới được tháo khăn. Nếu tháo khăn sớm, sau này bạn sẽ dể bị chứng ngứa, mề đay…Nếu xông bằng nồi xông thì sau khi vừa ý, bạn rút nồi ra khỏi mền mà vẫn ngồi trùm mền cho đến khi không ra thêm mồ hôi hoặc không thấy nóng nữa. Lúc này bạn hé mền một chút cho hơi nóng trong mền và hơi mát bên ngoài hòa trộn nhau. Một lát sau lại hé thêm mền. Chờ cho hai luồng không khí hòa đều. Lúc này mới bỏ hẳn mền ra, thay quần áo khô. Nếu không sau này bạn cũng dể bị ngứa ngoài da, rất khó trị.
Thông thường, hết cảm thì các triệu chứng phụ cũng hết theo. Đôi khi di chứng (triệu chứng phụ) sau cảm còn nặng nề thì bạn trị các bệnh này mà thôi – sẽ lần lượt đưa lên sau.
Riêng với cảm nóng, rất dể bị nhiễm trùng cơ hội các cơ phận hô hấp: mũi,họng,khí phế quản. Nếu trị mà không thấy giãm các triệu chứng này bạn nên theo Tây y.
Nên trị bệnh ngay khi vừa bị cảm. Bởi lúc này các bệnh phụ kèm theo (ho,nghẹt mũi…) chưa nặng lên.

Kinh nghiệm điều trị cảm nóng, cảm lạnh, cảm nước

  • Thông thường, nếu trị sớm và đúng, bạn sẽ hết bệnh ngay trong ngày hay không quá 2 ngày.
  • Dù trị cảm bằng phương pháp nào đã thấy có giãm nhiều (#7/10) mà vẫn không khỏi hẳn triệu chứng chính, kéo dài hơn 2 ngày. Đó là bạn có suy nhược cơ thể, nên uống thêm thuốc bổ đa sinh tố.
  • Đôi khi bạn bị cảm theo cả 2, 3 nguyên nhân cùng lúc. Như khi đi nắng lâu, vừa về đến nhà, không chịu chờ cho cơ thể dịu lại bạn lập tức nhào vô tắm, và tắm lâu cho đến khi thấy mát lạnh cho “đã”. Sau đó bị cảm, thì ít nhất bạn có 2 nguyên nhân gây bệnh trở lên. Lúc này bạn sẽ thấy các tr.ch. rất lộn xộn khó chẩn đoán. Cụ thể như vừa thấy nóng vừa thấy lạnh, khát nước nhưng uống vào lại thấy ngán không uống được. Thèm nước đá nhưng uống vào một lát thì thấy lạnh người hơn. Sờ trán và bàn chân cũng khó nhận định vì chúng thay đổi liền liền. Bạn cứ bình tĩnh trị theo cảm lạnh,xông, cho đến khi chỉ còn các hiện tượng của cảm nóng mà thôi (dựa theo tr.ch. chính),nên theo dỏi bản thân ít nhất 4 giờ đồng hồ để biết chắc chỉ còn cảm nóng. lúc bấy giờ bạn trị theo cảm nóng là xong. Trường hợp này, bạn cần uống thuốc bổ sau khi các tr.ch. chính đã hết, vì sức đề kháng của bạn đã bị suy giãm. Các tr.ch. phụ cũng sẽ kéo dài chứ không hết ngay.

Đề phòng cảm nóng, cảm lạnh, cảm nước

Lưu ý: mỗi khi bị cảm là sức khỏe của bạn phải bị giãm sút ít hay nhiều, tạo điều kiện cho các bệnh khác nảy sinh. Cho nên không nên để bị cảm. Bạn nên tập lại các thói quen:
  • Hạn chế tối đa việc uống nước đá, nước ướp lạnh. Khi trời quá nóng nực bạn có thể dùng thức uống lạnh nhưng chậm rãi, lắng nghe cơ thể thấy dịu lại hết cảm giác nóng bức là ngưng ngay, cho dù đó là một ly cam vắt hay cà phê sữa đá ngon tuyệt.
  • Không cho cơ thể chịu đựng nhiều với môi trường nóng, lạnh, ẩm ướt cao độ. Có nghĩa là cơ thể cần được bảo vệ khi đi nắng, đi mưa…vv.
  • Sau khi đi nắng hoặc làm việc mệt nhọc, phải chờ cho cơ thể dịu lại, hết mệt mới đi tắm. Không tắm khi quá đói hay quá no.
Lương y Tạ Minh

Thuốc đắp chữa bệnh tim

CHỮA BỆNH TIM CHỈ BẰNG ĐẬU XANH VÀ DẦU MÈ – TOA THUỐC BÍ TRUYỀN CỦA VỊ CAO TĂNG THÍCH TUỆ HẢI

“Khi biết bệnh tình của tui, thầy Hải suy nghĩ rất lâu rồi đồng ý chỉ cho tui bài thuốc trị bệnh tim bằng đậu xanh và tinh dầu mè.” bà Thắm nói.



Bà Thắm kể chuyện bệnh tim của mình và cơ duyên có được bài thuốc đậu xanh, dầu mè trị bệnh cứu người miễn phí

Hết bệnh, phải dùng bài thuốc cứu đời


Bà Trương Thị Thắm (43 tuổi, ngụ tổ 6, ấp Định Nghĩa, xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) kể: “Năm tui 28 tuổi thì tự nhiên bị mệt trong người. Đi khám bệnh ở Bệnh viện Cù Lao Minh (huyện Mỏ Cày Nam), bác sĩ phát hiện tui mắc chứngnhồi máu cơ tim do bị hở van tim giai đoạn 2 rất nặng”.

Trong suốt 3 năm, bà Thắm ra vào Bệnh viện Cù Lao Minh liên tục. Có khi trong 10 ngày, bà phải nhập viện điều trị bệnh tim 2 lần. Điều trị ròng rã nhưng bệnh tình của bà Thắm không thuyên giảm nên Bệnh viện Cù Lao Minh đã chuyển bà lên Bệnh viện Chợ Rẫy TP. HCM. Mấy năm sau đó, bà chuyển hết sang Bệnh viện 115, rồi Bệnh viện Việt Pháp TP. HCM điều trị nhưng bệnh tình không chuyển biến.

Bà Thắm nhớ lại: “Tui nhớ lúc đó tui điều trị bệnh tim ở Bệnh viện Việt Pháp suốt 4-5 năm, mỗi tháng tốn gần 12 triệu đồng tiền thuốc mà bệnh tình mỗi ngày một nặng hơn. Chẳng những bị bệnh tim nặng, tui còn có 2 khối u ở ngực, bị u nang buồng trứng, gai cột sống nặng và bị sỏi thận 7,3mm.

Lúc đó tiền trong nhà đã cạn sạch, 300 triệu đồng của mẹ tui đi làm thuê dành dụm được, 6 cây vàng tiền bán 2 công đất vườn dừa, 50 triệu đồng vay ngân hàng đều đổ vào trị bệnh cho tui. Nhìn tui, gia đình, bà con lối xóm ai cũng nói tui chỉ có chết chứ không thể qua khỏi những căn bệnh nan y”.

Bài thuốc của thầy Thích Tuệ Hải với thành phần chủ lực là đậu xanh và dầu mè

Năm 2004, bà Thắm đến Linh Quang Tịnh xá (quận 4 TP. HCM) lễ Phật thì tình cờ gặp được thầy trụ trì Thích Từ Giang. Nghe bệnh tình của bà Thắm, thầy Thích Từ Giang cho bà 1 chiếc đĩa DVD do thầy Thích Tuệ Hải ở Đồng Nai hướng dẫn thực dưỡng trị bệnh bằng gạo lứt, muối mè.

Bà Thắm về ăn gạo lứt muối mè một thời gian như hướng dẫn thì khi đi khám lại các khối u không còn, nhưng căn bệnh tim thì không thuyên giảm.

Trong một lần đi Đồng Nai gặp thầy Thích Tuệ Hải để cảm ơn, bà Thắm và chồng là ông Nguyễn Văn Cường (44 tuổi) may mắn được thầy Hải chỉ cho thêm bài thuốc trị bệnh tim để về áp dụng. “Khi biết bệnh tình của tui, thầy Hải suy nghĩ rất lâu rồi đồng ý chỉ cho tui bài thuốc trị bệnh tim bằng đậu xanh và tinh dầu mè.

Ông nói, không phải người nào ông cũng cho bài thuốc trị bệnh tim bí truyền này mà chỉ hướng dẫn cho những người có cơ duyên. Điều kiện duy nhất của thầy Hải đưa ra với vợ chồng tui lúc đó rất đơn giản: Sau khi đắp thuốc trị hết bệnh tim cho bản thân thì 2 vợ chồng tui bắt buộc phải dùng bài thuốc này trị bệnh miễn phí cho những người nghèo khó bị mắc bệnh tim”, bà Thắm nhớ lại.


Sau khi có được bài thuốc của thầy Thích Tuệ Hải với thành phần chủ lực là đậu xanh và dầu mè, bà Thắm và chồng về nhà áp dụng. Chỉ sau 20 ngày đắp thuốc đậu xanh và dầu mè, bà Thắm cảm thấy trong người hoàn toàn khỏe mạnh, không còn những cơn mệt mỏi, vật vã khó thở như trước.

Chỉ sau 20 ngày đắp thuốc đậu xanh và dầu mè, bà Thắm cảm thấy trong người hoàn toàn khỏe mạnh

“Cuối năm 2005, khi tui đi lên các bệnh viện ở TP. HCM khám lại, các bác sĩ cứ hỏi tui uống thuốc gì mà khỏi bệnh? Bởi theo bác sĩ ở đây, bệnh tim của tui chỉ có uống thuốc Tây cầm cự hoặc phải phẫu thuật mới cứu vãn được. Lúc đó tui không dám nói thật là đắp đậu xanh, dầu mè mà khai với bác sĩ là về nhà chỉ thuốc Nam, thuốc Bắc gì cũng uống, bệnh hết hồi nào không hay”, bà Thắm kể.

Câu chuyện bà Thắm hết bệnh tim nhờ phương pháp đắp đậu xanh, dầu mè chẳng mấy chốc lan truyền ra khắp vùng quê Định Thủy. Rất nhiều người không tin, tìm đến tận nhà xem thử thực hư và tận mắt nhìn thấy bà Thắm tươi tỉnh, mạnh khỏe chăm sóc vườn tược, may quần áo gia công, không còn xanh xao vàng vọt nằm một chỗ như trước.

Từ đó, nhiều người bị bệnh tim trong vùng đã tìm đến, nhờ vợ chồng bà cứu giúp họ qua cơn bệnh hiểm nghèo.

Cứu hàng ngàn người miễn phí nhưng bị cấm

Bà Thắm nhớ lại: “Lúc nhiều người tìm đến vợ chồng tui nhờ đắp thuốc trị bệnh tim, tui nhớ đến lời căn dặn của thầy Thích Tuệ Hải, nên không từ chối một ai hết. Lúc đầu chỉ có vài người trong xã lui đến, sau đó người này chỉ dẫn người khác, càng ngày người bệnh tìm đến nhờ đắp thuốc càng đông”.

Theo những hồ sơ bệnh án của người bệnh để lại nhà bà Thắm để chứng minh, thì có người ở các huyện, thị của tỉnh Bến Tre, có người bệnh ở Tiền Giang, nhiều người khác ở tận TP. HCM. Người có bệnh, hễ ai chỉ nơi có bài thuốc hay, là xa ở đâu họ cũng tìm tới…

Mỗi ngày vợ chồng bà Thắm đắp thuốc trị bệnh miễn phí cho 40- 50 người bệnh từ khắp nơi tìm đến. Nhà chật hẹp, lúc đầu bà Thắm không có chỗ cho bệnh nhân nằm đắp thuốc, nên nhiều người bệnh phải tự kê ghế bố, ghế xếp ngoài sân, bên hiên nhà để nằm đắp thuốc.

Những tháng nắng thì đỡ vất vã, nhưng những tháng mùa mưa, tìm chỗ nằm khô ráo cho bệnh nhân rất khó khăn. Thấy vậy, nhiều bệnh nhân đã tự nguyện góp tiền, cây gỗ… cất 1 căn trại rộng khoảng 40m2, có đầy đủ giường chiếu sạch sẽ, sát bên căn nhà của bà Thắm để người bệnh có nơi nằm đắp thuốc trị bệnh yên ổn.



Bà Thắm khoe bịch thuốc Tây trị bệnh tim của bà bị bỏ hơn 10 năm sau khi bà hết bệnh nhờ bài thuốc đậu xanh, dầu mè

Do hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên vợ chồng bà Thắm chỉ nhận đắp thuốc trị bệnh miễn phí. Còn đậu xanh, tinh dầu mè và giấy vệ sinh (dùng để thấm dầu sau khi hết thời gian nằm đắp thuốc) đều do người bệnh tự mua mang tới để sử dụng. Tức vợ chồng bà không hề thu một đồng nào của người bệnh.

Bà Thắm kể: “Hồi trước vợ chồng tui đắp thuốc trị bệnh miễn phí từ sáng đến chiều mỗi ngày, buổi sáng thì trị bệnh cho phụ nữ do tui đảm trách. Còn buổi chiều, đắp thuốc cho bệnh nhân nam do chồng tui thực hiện.

Nhưng sau đó các bệnh nhân thấy gia cảnh vợ chồng tui quá khó khăn, tui may gia công quần áo còn chồng đi làm thuê, lại phải nuôi 2 đứa con đang ăn học ở TP. HCM, nên bà con đề nghị mỗi ngày chỉ trị bệnh 1 buổi sáng, còn buổi chiều để vợ chồng tui làm lụng kiếm tiền lo cuộc sống gia đình. Từ đó tui đắp thuốc trị bệnh cho bà con từ 3 giờ sáng đến 13 giờ chiều thì nghỉ”. 

Nguyên tắc đắp thuốc trị bệnh tim của bà Thắm cũng rất khắt khe: Người bệnh khi đến đắp thuốc phải mang đầy đủ hồ sơ bệnh án, kết quả siêu âm được bệnh viện xác định là mắc bệnh tim thì vợ chồng bà Thắm mới nhận đắp thuốc giùm.

Bệnh nhân nào không có hồ sơ bệnh án của bệnh viện thì vợ chồng bà Thắm cương quyết từ chối. Lý do đơn giản là không biết bị bệnh gì thì không thể đắp thuốc trị bệnh tim.

“Hầu hết bệnh nhân đến nhờ vợ chồng tui đắp thuốc trị bệnh tim đều bị các chứng hở van tim nặng. Trong thời gian đắp thuốc, nếu tui thấy ai khỏe mạnh trở lại thì yêu cầu họ ngưng đắp thuốc, đi bệnh viện khám lại xem bệnh tình ra sao. Nếu bị tình thuyên giảm thì có thể quay trở lại đắp thuốc tiếp, còn nếu khỏe mạnh hoàn toàn thì ngưng luôn, không đắp nữa”, bà Thắm cho biết.

Theo bà Thắm, bài thuốc trị bệnh tim của thầy Thích Tuệ Hải rất đơn giản và không tốn kém quá nhiều tiền: đậu xanh bỏ vỏ xay nhuyễn pha với nước ấm thành bột đắp lên chỗ tim bị bệnh thành 1 vòng tròn, sau đó lấy 10ml tinh dầu mè hâm nóng ở nhiệt độ vừa phải rồi chế vào trong vòng tròn đậu xanh, giữ nguyên 2 giờ đồng hồ cho thuốc thấm vào bên trong cơ thể (người bệnh phải nằm ngửa bất động trong thời gian đắp thuốc).

Tùy theo cơ địa của người bệnh mà mỗi lần đắp thuốc kéo dài 15 ngày đến 30 ngày.

Theo bà Thắm, hiện nay các bệnh lý do hở van tim khi phẫu thuật rất tốn kém, chi phí lên đến vài trăm triệu đồng/ca, những bệnh nhân nghèo hầu như không có tiền để chữa trị. Trong khi đó mỗi ca điều trị bệnh tim bằng bài thuốc của bà Thắm chỉ tốn khoảng 200.000 đồng, gồm chi phí mua 2kg đậu xanh (đã bỏ vỏ), 2 chai dầu mè tinh chất và 2 cuộn giấy vệ sinh…

Theo tuổi trẻ

Monday, October 30, 2017

Sau 7 ngày hết đau nhức xương khớp

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, với cường độ làm việc căng thẳng, bệnh đau nhức xương khớp không chỉ ở người già mà còn lan rộng sang cả những người trẻ tuổi do thời gian làm việc bàn giấy nhiều giờ, hay chơi game, ít vận động, làm việc nặng nhọc dẫn đến thoái hóa, thoát vị đĩa đệm gây lên chứng đau nhức xương khớp không tài nào chịu được. Còn ở người già thì chứng đau nhức xương khớp phổ biến do nguyên nhân phong – hàn – thấp (tức là gió – lạnh – ẩm). Những tác nhân môi trường này đi vào cơ thể con người gây giảm chức năng của xương khớp và kèm theo những biểu hiện đau đớn. Các cụ hay nói đùa là bản thân không khác gì “đài dự báo thời tiết” vì quả thực khi trời sắp mưa hay độ ẩm cao chứng đau tê phong thấp lại gia tăng.Theo Đông Y, chứng tê đau phong hàn thấp chia đại thể thành 3 dạng
– Thể phong thấp
      Triệu chứng: Các khớp và thân thể đau nhức, đau thường chạy từ khớp này sang khớp kia, đau di chuyển, các khớp khó cử động , cơ thể phát sốt, toàn thân mệt mỏi giống với bệnh viêm khớp, thích nằm.
– Thể tê thấp
      Triệu chứng: Đau nhức nặng nề, da thịt tê bì, đi lại chậm chạp khó khăn giống với bệnh tê bì chân tay, đau dai dẳng, nhận biết cảm giác bị giảm. Nếu bệnh nặng có thể bị tê liệt một bên cơ thể. 
– Thể hàn thấp
       Triệu chứng: Đau ở một khớp hoặc nhiều khớp, đau cố định, không chạy như phong thấp. Càng lạnh càng đau. Đau nhiều về đêm. Các khớp khó co duỗi. Chân tay lạnh, da lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch khẩn, đại tiện thường lỏng.Đau lâu ngày, thường sinh ra thể thứ 4 là:
– Thể nhiệt tí
        Triệu chứng: Các khớp sưng nóng đỏ đau, đau có mủ hay đau đến toát mồ hôi, đồng thời kèm theo một trong những biểu hiện đau của các thể trên.
       Xin chia sẻ với tất cả mọi người, một bài thuốc hiệu quả, đơn giản, cơ bản, nguyên liệu dễ kiếm rẻ tiền để chữa tất cả các chứng đau kể trên.
Gồm: 
- Lá đinh lăng 30 gam khô hoặc 50 – 60 gam tươi
- Lá cây trinh nữ 30 gam khô hoặc 50 – 60 gam tươi
- Lá lốt (cả rễ) 30 gam khô hoặc 50 – 60 gam tươi
- Rửa sạch bỏ 1,5 lít nước đun còn 1 lít uống cả ngày.
Theo Đông y, Lá lốt vị cay, tính ấm, trị được phong hàn thấp, tay chân lạnh, tê bại. ỉa chảy, thận bàng quang lạnh,…Lá cây trinh nữ vị ngọt, hơi se, tính hàn, có tác dụng trấn tĩnh, an thần, chống viêm, làm dịu đau, hạ áp, tiêu tích, lợi tiểu. Lá cây xấu hổ được dùng an thần, chữa mất ngủ. Kinh nghiệm người dân miền Trung đào rễ cây về chữa đau xương khớp, thoát vị có hiệu quả cao.Lá đinh lăng vị bùi, đắng, thơm mát. Lá đinh lăng bổ huyết, tăng sức đề kháng của cơ thể. Mà theo y lý, khi chính khí là khí huyết mạnh thì sẽ tự đuổi tà khí (phong – hàn – thấp) ra ngoài.

Wednesday, October 25, 2017

Bát đoạn cẩm - quốc tế



Bát Đoạn Cẩm 

Bát Đoạn Cẩm là bài tập ngoại đan khí công (external elixir) đã có khoảng 1000 năm. Toàn bộ bài tập khởi đầu gồm 12 thế nhưng sau được thu gọn thành 8 thế.  (Do Hội võ sư Bắc Kinh biên soạn thành bát đoạn cẩm Quốc tế)
https://youtu.be/tAl6DjmMO18
Bát Đoạn Cẩm giúp đả thông kinh mạch, luyện gân cốt, khai thông khí huyết khắp mọi nơi trong cơ thể giúp cho người tập có được một thân thể cường tráng, tiêu trừ bệnh tật, và một tinh thần minh mẫn sáng suốt.  Cũng chính vì giá trị nầy mà 8 thế tập đuợc mệnh danh là Bát Đoạn Cẩm có nghĩa là 8 đoạn gấm. 
Nói về nguồn gốc của Bát Đoạn Cẩm thì có hai truyền thuyết.  Một cho rằng Bát Đoạn Cẩm phát xuất từ chùa Thiếu Lâm do Đạt Ma Tổ Sư sáng tác nên được gọi là Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm.  Và một thuyết khác cho rằng đây là bộ môn khí công do Nhạc Phi sáng tác vào niên đại nhà Tống khoảng năm (1127-1279 AD).   
Trải qua bao thế kỷ, Bát Đoạn Cẩm đã được biến đổi khá nhiều theo từng môn phái nhưng nói chung thì hình thức tuy có khác nhưng nội dung cốt tuỷ của sự luyện tập cũng đều gần giống như nhau. 
Điều thiết yếu mà người tập cần nên nhớ: giá trị quí báu của pháp tập là sự thấu hiểu thông suốt những kỹ thuật vận hành khí huyết, luyện gân cốt hơn là chú trọng vào hình thức bề ngoài.  Dụng thân tạo hình để luyện pháp chứ không chấp trụ vào hình tướng.  Thân pháp được tinh luyện nhẹ nhàng thì khí thông, khí thông thì thần sắc vững mạnh để đạt đến giai đoạn cuối cùng là “Tinh, Khí, Thần” hợp nhất, thân tâm tự tại.  Và kế đến cũng không kém phần quan trọng hơn nữa đó là sự cố gắng luyện công hằng ngày.  Công phu, công quả, công trình là 3 yếu tố dẫn đến sự thành tựu tốt đẹp trong quá trình luyện tập.
    
Tác Dụng và Phương Pháp Tập Luyện
    
1.   Lưỡng Thủ Kình Thiên Lý Tam Tiêu   (Hai tay chống trời điều hòa tam tiêu) 
Tác dụng: 
Tam tiêu bao gồm thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu.
Thượng tiêu: vị trí từ đầu cho đến hoành cách mô liên quan đến hệ tuần hoàn và hô hấp.
Trung tiêu: vị trí từ hoành cách mô cho đến rún liên quan đến hệ tiêu hóa.
Hạ tiêu: vị trí từ rún cho đến bộ phận sinh dục liên quan đến hệ bài tiết. 
Luyện thông tam tiêu giúp trí tuệ minh mẫn, sáng suốt, ăn ngon ngủ yên, một cơ thể cường tráng tiêu trừ các bệnh tật. “nhờ phương pháp kéo thẳng cả người lên trên làm giãn cột sống nên cũng giúp điều trị được chứng mỏi lưng.” 
Động Tác: 
Đứng thẳng người, tự nhiên, khoảng cách giữa hai chân bằng chiều rộng của đôi vai, hai tay thả lỏng hai bên hông.  Nhắm mắt, tâm bình thản, điều thân và điều tức.
Mở mắt nhìn phía trước, hít thở tự nhiên và nhẹ.  Tập trung thần nơi ấn đường (giữa hai mắt hay còn được gọi là đan điền thần), trầm khí xuống đan điền (khí hải).  Hít nhẹ, cùng lúc hai bàn tay đan lại từ từ đưa lên ngang ngực, chuyển lưng bàn tay hướng phía trước, thở ra, tiếp tục đưa thẳng hai tay qua khỏi đầu, lòng bàn tay hướng lên cao, thẳng lưng, nhón gót chân (hít vào), tiếp tục đẩy hai tay như nâng chống vòm trời chừng độ mươi giây.  Sau đó rớt hai gót chân xuống (thở ra), hai bàn tay vẫn đan nhau và hai tay hơi chùn xuống, hít nhẹ vào, nghiêng người qua trái, thở ra, trở về chính giữa, hít vào, nghiêng người qua phải, thở ra.
Hạ hai tay xuống trở về tư thế lúc ban đầu. 

 2. Tả Hữu Khai Cung Tự Xạ Điêu  (Trái phải giương cung như bắn chim điêu) 
Tác dụng: 
Luyện thần (nhắm bắn chim điêu), tăng cường chức năng phổi (ngực căng ra khi bắn), gia tăng khí lực nơi tay (giương cung) và đới mạch (giúp khí thông hai bên thận).  Đồng thời cũng giúp cho đôi chân được khoẻ mạnh cứng cáp qua thế đứng trung bình tấn hay còn gọi là kỵ mã tấn. 
Động Tác: 
Bước chân phải qua bên phải lập tấn, trung bình tấn.  Hai tay thả lỏng và nâng lên trước ngực, hai bàn tay chấp lại.  Nghiêng người qua trái, hít vào, tách hai tay ra, bàn tay phải nắm lại, kéo ra sau và ngừng lại dưới ngực phải, cùng lúc đó thì tay trái duổi thẳng ra phía trái ngang tầm vai, bàn tay hơi nắm lại với ngón trỏ đưa ra, bật đứng cổ tay.  Dụng ý * tưởng như đang kéo căng dây cung nhắm bắn chim điêu ở tầm xa. 
Sau đó thở ra, hai tay buông lỏng, nghiêng người qua phải, tay trái ôm vòng qua bên phải, hít vào, như nắm lấy dây cung kéo về ngang ngực trái, tay phải duổi thẳng ra bên phải ngang tầm vai như cầm thân cung, lập lại giống nhu trên và nhắm bắn chim điêu bên phải. 
* Dụng ý bất dụng lực để khí không bị bế tắc nơi tay. 

3. Điều Lý Tỳ Vị Đơn Cử Thủ    (Điều hoà tỳ vị, một tay đẩy lên) 
Tác dụng: 
“Làm gia tăng chức năng của Can (gan), giúp Tỳ Vị (dạ dày và lá lách) khí lưu thông.  Giúp ăn ngon, ngủ được, và đại tiểu tiện thông suốt.” 
Động Tác: 
Đứng thẳng người, tự nhiên, khoảng cách giữa hai chân bằng chiều rộng của đôi vai, hai tay thả lỏng hai bên hông. 
Chuyển hai tay để trước bụng, lòng bàn tay hướng lên cao.  Rút chỏ trái lên ngang đầu, hít vào, lật bàn tay trái để lòng bàn tay hướng lên cao, thở ra, và từ từ đẩy thẳng tay lên (các ngón tay hướng qua phải).  Cùng lúc với tay trái thì tay phải nhấn xuống với lòng bàn tay hướng xuống đất (các ngón tay hướng ra trước).  Sau đó rớt chỏ trái xuống, kéo chỏ phải lên hít vào và lập lại các thao tác như trên. 
Ghi chú: 
Trong khi di chuyển hai tay nên chú ý lắng nghe sự vận chuyển của các cơ bắp tác động đến vùng tỳ vị và gan.  Không được gồng cứng hai tay.

  4. Ngũ Lao Thất Thương Vọng Hậu Tiền    (Năm lao thất thương, liếc nhìn phía sau) 
Tác dụng: 
Ngũ lao liên quan đến sự suy yếu của 5 cơ quan nội tạng trong cơ thể như: tâm, can, tỳ, phế, thận.
Thất thương: thương tổn gây ra bởi sự xáo trộn của tinh thần qua 7 cảm xúc: hỷ, nộ, ái, ố, bi, lạc, dục.
Theo Đông Y, con người có thể trở nên bệnh nếu như ngũ tạng bị suy yếu và tinh thần bị xáo trộn.  Chẳng hạn như sự nóng giận có thể làm bế khí nơi gan và ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của gan.  Nhưng không phải chỉ có các cơ quan nội tạng bị ảnh hưởng, một xáo trộn mạnh trong các cảm xúc cũng khiến cho khí bị tích tụ và dồn nén lên trên đầu.  Khi ta xoay đầu qua hai bên thì các bắp thịt và các động mạch máu nơi cổ được thả lỏng, giúp cho khí lưu chuyển lên đầu và đồng thời cũng giúp tăng lưu lượng máu vào não bộ.  “Giúp điều hòa chức năng vùng hành não, trong đó có các trung tâm kiểm soát hệ thần kinh thực vật giao cảm, đối giao cảm, và từ đó tăng chức năng các tạng phủ.”
Tập thế nầy thường xuyên sẽ giúp hành giả điều khí ở các cơ quan nội tạng và bộ đầu, điều dưỡng lại các tổn thương do các xúc cảm gây nên và giúp tiêu trừ các bệnh tật. 
Động Tác: 
1. Đứng thẳng người , tự nhiên, khoảng cách giữa hai chân bằng chiều rộng của đôi vai, hai tay thả lỏng hai bên hông. 
Quay đầu sang trái tối đa và nhìn ra phía sau, thở ra. 
Quay đầu trở về phía trước, hít vào.
Quay đầu sang bên phải và nhìn ra sau, thở ra.
Quay đầu trở về phía trước, hít vào. 
Thân người và hai tay luôn để yên không xoay chuyển.   
2. Kế đến đặt hai tay sau lưng nơi eo (các ngón tay hướng vào nhau) hai vai bật nhẹ ra sau, quay đầu và hít thở giống như trên (1). 
3. Sau cùng di chuyển hai tay ra trước ngực, lòng bàn tay hướng lên cao, hai vai bật nhẹ ra trước, quay đầu qua hai bên và hít thở giống như trên (1). 

  5. Dao Đầu Bài Vĩ Khử Tâm Hỏa   (Lắc đầu vẫy đuôi dứt bỏ tánh nóng nảy) 
Tác dụng: 
Hỏa (trược khí) nơi trung đan điền sinh ra do thức ăn không tiêu, hít thở không khí không trong sạch hay thiếu ngủ.  Nếu như xảy ra thường xuyên thì sinh ra chứng ợ nóng (heartburn) hay còn gọi là tâm hỏa (heartfire). Khi quá nhiều khí tích tụ và ứ động nơi đan điền hoặc tim, thì phương cách tốt nhất là chuyển hỏa khí nầy vào hai buồng phổi để được dung hòa và đào thải ra ngoài.
Theo thuyết ngũ hành thì hỏa khắc kimtuy nhiên kim có thể hấp thụ được sức nóng và kềm chế được hỏa.  Phổi thuộc hành kim, tim thuộc hành hỏa nên có thể nói Phế Kim có thể làm dịu đi Tâm Hỏa.  Và kết quả là tâm được thanh thản.
Khi hành giả giữ hai tay trên đầu gối với ngón cái hướng ra ngoài thì ngực được giãn ra, và khi hành giả chuyển thân người từ bên nầy sang bên kia thì tuần tự hai bên phổi được thả lỏng cho nên dễ thu hút hỏa khí và làm dịu đi từ từ.
Thế tập nầy cũng giúp gia tăng lượng máu lưu thông nơi chân giúp điều trị chứng bệnh tê và nhức mỏi nơi chân. 
Động tác: Bước chân phải qua bên phải, đứng trung bình tấn.  Đặt hai tay trên đầu gối, 2 ngón tay cái hướng bên ngoài đùi.  Đưa khí xuống lòng bàn chân, ý nghĩ đến huyệt Dũng tuyền.  Hít vào, nghiêng thân người qua bên trái, tay trái nhấn mạnh xuống đùi, giữ cho đầu, xương sống và chân phải gần như thẳng hàng, thở ra.  Giữ nguyên vị trí đó khoảng 3 giây. 
Chuyển người qua bên phải và lập lại các động tác và hít thở như trên. 
Xoay người qua hai bên trái phải, mi bên từ 6 đến 12 lần. 

 6. Lưỡng Thủ Phan Túc Cố Thận Eo  (Hai tay kéo hai chân bền thận eo) 
Tác dụng: 
Giúp vận khí tại thân và đốc mạch, tăng cường tinh và giúp gân cốt được mềm mại, dẻo dai.
Khi cúi thân người xuống, hai tay nắm lấy đầu ngón chân (hoặc xuống thấp tuỳ theo thể chất của mi người) thì bắp thịt sau lưng bị căng làm gián đoạn sự vận chuyển của khí nơi vùng lưng, thận.  Khi đứng thẳng lên thì khí được khai thông trở lại bình thường cũng giống như ống nước đang chảy bị gấp lại rồi được buông thẳng ra.  Đây là phương pháp tốt nhất để kích thích (xoa bóp) thận và giúp gia tăng luồng khí chuyển vào thận, cũng như các bắp thịt lưng và xương sống. 
Động  tác: 
Đứng thẳng người, tự nhiên, hai tay thả lỏng, giữ khoảng cách chân bằng đôi vai.
Nhấn nhẹ hai bàn tay xuống hai bên hông sau đó nâng hai tay lên trước ngực, hít vào, kế đến đưa hai tay lên qua khỏi đầu với lòng bàn tay hướng lên cao.  Hướng hai lòng bàn tay ra trước mặt.  Cuối xuống từ từÝ nghĩ đến Mệnh môn và vùng thậnĐứng yên khoảng 3 giây sau đó từ từ đứng thẳng lên, hít nhẹ vào. 

7.Toàn Quyền Nộ Mục Tăng Khí Lực   (Nắm chặt quyền, mắt giận, tăng khí lực) 
Tác dụng: Giúp gia tăng thị lực (tập trung nhìn vào bàn tay nắm), kích thích gan.  “Làm tăng khí lực do tay chân và thân eo kết nối với nhau.”
Khi thần (spirit) mạnh thì đồng thời khí lực cũng gia tăng.  Phương pháp nầy rất quan trọng vì nó khai thông được bế khí và dẫn khí ra ngoài da.  Tập trung “ý” là điểm chính yếu cần phải ghi nhớ trong thế tập. 
Động tác: Bước chân phải qua bên phải, đứng trung bình tấn.  Hai tay nắm lại để bên hông.
Xoay đầu qua trái, mắt tập trung vào nắm tay, tay trái dui ra và từ từ nắm chặt lại, vận gân xoáy chặt quyền, thở ra.  Tay mặt vẫn giữ nguyên bên hông.  Sau đó thả lỏng hai tay, rút tay trái về bên hông trái, hít vô. 
Lưu ý:  khi đấm ra, mắt phải nhìn trông như giận dữ (nộ mục). 
Tay phải dui ra và lập lại các thao tác trên. 

8. Kiễng Túc, Nâng Đầu Tiêu Bách Bệnh   (Nhón Gót Nâng Đầu Tiêu Bách Bệnh)
 Tác dụng: 
“Vận khí trên toàn bộ kinh mạch bằng cách tác dụng lên toàn thân và cột sống.  Các kinh mạch căng ra và thu vào như sợi dây thừng. Kiễng chân lên và hạ chân xuống kích thích 6 túc kinh, vươn cổ lên kích thích 6 thủ kinh”. Giúp tăng sinh lực, bền sức, giúp thân thể cường tráng và các bệnh tiêu tan. 
Động tác: 
Đứng thẳng người, tự nhiên, hai tay thả lỏng, giữ khoảng cách chân bằng đôi vai. 
1.  Nhón gót chân lên càng cao càng tốt, hít vào, giữ yên khoảng 3 giây, rớt người xuống, thở ra. 
2. Kế đến để hai bàn tay sau lưng, ngang bên hông, ngón tay cái hướng trước mặt, vai hơi bật ra sau.  Nhón gót và hít thở như trên (1). 
3.  Sau cùng, đưa hai tay ngang dưới ngực, lòng bàn tay hướng lên cao, vai hơi bật ra phía trước.  Nhón gót và hít thở như trên (1). 

Mi thế tập từ 12-24 lần. 

Jo

free counters